|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-7-2024
V/v "Tranh chấp về ly hôn, con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Văn Kiểm
- Bà Lưu Thị Kim Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Vũ Hồng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc "Tranh chấp về ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐ-TA ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, giữa:
Nguyên đơn: Đinh Thị Phương L, sinh năm 1995, Nơi ĐKHKTT: Tổ C, khu Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ C, khu Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trung Đ có tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về ở chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Đ nghiện ngập không chăm lo cho gia đình, vợ con, thường xuyên chửi bới xúc phạm danh dự của chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ ở Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để ở. Khi sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là: cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 01/10/2017 và cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 17/7/2020. Chị đi làm và có thu nhập 6.652.600 đồng/ tháng. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, về nợ chung và về công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trung Đ không có lời khai.
Tại phiên tòa,
Chị L giữ nguyên lời khai, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Phương L, cho chị L được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Giao 02 con chung cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con chung thành niên, lao động tự túc được; Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung, về nợ chung và công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Buộc chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì cho anh Nguyễn Trung Đ nhưng anh đều vắng mặt không lý do trong các buổi làm việc tại Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn, con chung. Vì vậy Tòa án không có bản tự khai, không lấy được lời khai của anh Đ.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Đ. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất anh Đ vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa. Tòa án mở phiên toà xét xử sơ thẩm lần 2, anh Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định theo khoản tại điều 277, khoản 1 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L khai chị và anh Đ kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ năm 2016. Lời khai này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị L và anh Đ nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống chị L cho rằng hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ chơi bời, nghiện ngập, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 05/2024 cho đến nay. Khi sống ly thân thì vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Chị L xác định vợ chồng không còn tình cảm. Anh Đ không có lời khai.
Tòa án đã xác minh tại chính quyền địa phương tại tổ C, khu Q, phường G và chính quyền địa phương xác định: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đức n ma túy (loại cỏ Mỹ) và không quan tâm đến vợ con. Anh Đ từng bị nghiện và phải đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 16/2021/QĐ-TA ngày 03/12/2021.
Tòa án lấy lời khai của mẹ đẻ của anh Đ là bà Nguyễn Thị L1 xác định: Hiện nay, chị L và anh Đ đã sống ly thân.
Ngoài ra, tòa án tống đạt thời gian tiến hành buổi hòa giải giữa hai vợ chồng nhưng anh Đ không tham gia và cũng không có lý do về việc không tham gia này.
Lời khai của bà L1, chính quyền địa phương phường G phù hợp với lời khai của chị L về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Đ. Vợ chồng đã sống ly thân, khi ly thân không ai quan tâm đến ai. Bản thân anh Đ không muốn tiến hành hòa giải mẫu thuẫn vợ chồng để về đoàn tụ với nhau nên có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng anh Đ và chị L đã không còn như lời khai của chị L là đúng.
Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh Đ là trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L đề nghị xin ly hôn với anh Đ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình
- Về con chung:
Chị L khai vợ chồng chị 02 con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 01/10/2017 và cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 17/7/2020. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ không lấy được quan điểm.
Qua xác minh của trưởng khu Q và C Phụ nữ, chính quyền địa phương phường G đều xác định chị L và anh Đ có hai con chung như lời khai của chị L là đúng. Trưởng khu Q cũng đề nghị giao hai con chung cho chị L nuôi dưỡng do anh Đ vẫn có biểu hiện nghiện.
Chị L đã cung cấp cho Tòa án bảng lương của mình và thể hiện lương thu nhập bình quân của chị L là 6. 652.600 đồng/ tháng. Anh Đ không cung cấp thu nhập của mình.
Ngoài ra, do hai con chung còn nhỏ nên việc giao hai con chung cho một người nuôi dưỡng sẽ đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý cho các cháu. Anh Đ không tham gia các buổi làm việc của Tòa án, không thể hiện quan điểm gì về việc nuôi con.
Từ những nhận định trên, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chưa thành niên phát triển toàn diện cần giao hai con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, lao động tự túc được và anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở là phù hợp.
Do chị L tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không buộc anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L là phù hợp.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Do chị L không đề nghị Tòa án giải quyết, anh Đ không có ý kiến gì nên Tòa án không xem xét giải quyết là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Phương L.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Phương L ly hôn với anh Nguyễn Trung Đ.
- Về con chung:
Giao cho chị Đinh Thị Phương L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 01/10/2017 và cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 17/7/2020 cho đến khi con chung thành niên, lao động tự túc được.
Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L tự nguyện không yêu cầu.
Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Đinh Thị Phương L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006109 ngày 28/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. .
Trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về ly hôn, con chung
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị Phương L xin ly hôn anh Nguyễn Trung Đ
