Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 16-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài

Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Long

Bà Dương Thị Thu Vân

Ông Chu Minh Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo.

Họ và tên: Phạm Thanh T, sinh năm: 1988, tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Khu phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Khu phố Q, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Phạm Thanh T1 (đã chết); con bà: Hoàng Thị M; vợ: Trần Ngọc L, sinh năm: 1996 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2015, hiện sinh sống cùng với mẹ; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giam ngày 24/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Nguyễn T2 – Văn phòng Luật sư Lê Thị Tuyết N - Đoàn luật sư tỉnh L. Địa chỉ: Số G H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm: 1970; nơi ĐKHKTT: 91/45/4 đường số H, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị C, sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt

Bà Bùi Thị Kiều L2, sinh năm: 1987; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

Ông Phạm Anh T3, sinh năm: 1990; địa chỉ: Số E đường H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 4 năm 2022, sau khi nhận được quyền sử dụng đất, từ việc chuyển nhượng của người khác đối với các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 248738, số BU 248739 và số BU 238740 do UBND huyện L cấp ngày 06/9/2014; bà Nguyễn Thị Kim L1, trú tại: Số I Đường số H, Khu phố C, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đã liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách diện tích của 03 thửa đất được ghi trong 03 Giấy CNQSDĐ nêu trên thành những thửa đất có diện tích nhỏ hơn và chuyển đổi mục đích quyền sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở nông thôn. Tại đây, bà được thông báo các yêu cầu của bà không đủ điều kiện để thực hiện theo quy định.

Trong thời gian này được bà Trần Thị C, trú tại: Xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là người thân giới thiệu cho biết Phạm Thanh T là người chuyên nhận làm thủ tục giấy tờ đất về việc phân lô, tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Sau đó, bà L1 đã gặp T và trao đổi về việc muốn làm thủ tục tách diện tích của 03 thửa đất trong các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên thành 10 thửa và mỗi thửa có 100m2 đất thổ cư. Nghe bà L1 nói vậy, do đang cần tiền tiêu xài và trả nợ, T nói với bà L1 là T có nhiều mối quan hệ trong Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L; có đường dây riêng để thực hiện việc tách thửa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho bà L1; để bà L1 tin tưởng hơn, T khẳng định nếu làm theo thủ tục thông thường, thì bà L1 không thể làm được vì đất của bà L1 thuộc quy hoạch đất nông nghiệp và hạn chế việc phân lô, tách thửa theo Quyết định của UBND tỉnh L (Quyết định số: 40/2021/QĐ-UBND ngày 01/11/2021) (BL 292-295) và T khẳng định đường dây của T làm được việc phân lô, tách thừa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo nhu cầu của bà L1, nếu không làm được sẽ hoàn trả lại tiền.

Tin vào những gì T đã nói, bà L1 đồng ý trả cho T số tiền 840.000.000đ để T làm thủ tục tách diện tích của 03 thửa đất nêu trên, thành 10 thửa nhỏ, tương ứng mỗi thửa có 100m2 đất thổ cư; số tiền giao trước là 600.000.000đ, số tiền còn lại sẽ giao hết khi xong giấy tờ.

Ngày 14/4/2022, do ở xa nên bà L1 nhờ bà C lập giấy và giao cho T 600.000.000đ theo thỏa thuận giữa T và bà L1 trước đó. Bà C lập Giấy: Hợp đồng đặt cọc tách sổ, lên thổ cư, sổ nhanh. Ghi nhận việc vợ chồng ông Đoàn Thanh C1, bà Nguyễn Thị Kim L1 trả cho T số tiền 840.000.000đ; T có nghĩa vụ thực hiện việc tách các thửa đất số: 54, 55, 56, tờ bản đồ số 10 được ghi nhận trong các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 248738, số BU 248739 và số BU 248740 thành 10 thửa tương ứng với 10 sổ và mỗi thửa có 100m2 đất thổ cư, thời gian thực hiện từ ngày 12/4/2022 đến 14/9/2022. Nếu không làm được sẽ hoàn lại tiền và bồi thường cho vợ chồng bà L1.

Theo yêu cầu của T, bà L1 đã làm Hợp đồng ủy quyền và giao 03 Giấy chứng nhận quyền sử đất nói trên cho Bùi Thị Kiều L2, sinh năm: 1987, trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là bạn của T để T làm thủ tục. Sau khi nhận tiền xong T đã tiêu xài hết.

Hết thời hạn cam kết nhưng T vẫn không thực hiện được những yêu cầu đã nêu trong Hợp đồng đặt cọc; bà L1 yêu cầu T trả lại tiền, thì T không trả mà chỉ giao lại cho bà L1 03 Giấy CNQSDĐ. Sau khi nghe bà L1 cho biết sẽ tố cáo sự việc đến cơ quan điều tra, thì T đã nhờ L2 nộp hồ sơ để thực hiện việc đo đạc đất của bà L1; khi nhận được kết quả đo đạc, T đã gửi cho bà L1 biết và cam kết sẽ hoàn thành sớm việc làm giấy tờ cho bà L1 như cam kết.

Để tiếp tục che giấu hành vi chiếm đoạt tiền của bà L1, ngày 12/4/2023, T nói với bà L1 về việc UBND tỉnh L đã bỏ các quy định về việc hạn chế phân lô tách thửa để bà L1 đồng ý hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc đề ngày 14/4/2022 và lập lại Hợp đồng nhận làm sổ với nội dung: T nhận của bà L1 600.000.000đ để làm hồ sơ tách 03 thửa đất theo các giấy CNQSDĐ nêu trên, thành 07 thửa đất nhỏ và chuyển đổi 700m2 đất nông nghiệp sang đất thổ cư; chi phí là 700.000.000đ; thời gian thực hiện đến 14/8/2023 và yêu cầu vợ chồng bà L1 làm giấy ủy quyền cho T để thực hiện việc tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất cho bà L1.

Tài liệu thu giữ:

  • - 01 Hợp đồng đặt cọc đề ngày 14/4/2022 (bản phô tô) (BL 39).
  • - 01 Hợp đồng nhận làm sổ, ghi ngày 12/4/2023 (BL 161-162);

Theo Kết luận giám định số: 750 /KL-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Phạm Thanh T trên tài liệu cần giám định A so với chữ viết, chữ ký của Phạm Thanh T tên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người ký và viết ra (BL 166).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6-5G (BL 25).

Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình hoàn trả cho bà L1 số tiền 700.000.000đ; bà L1 có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ cho bị cáo. (BL 280).

Cáo trạng số: 26/CT-VKS-P2 ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như bản cáo trạng truy tố, không thắc mắc khiếu nại gì về bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà L1 số tiền 700.000.000đ bà L1 không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, gia đình bị cáo có bà ngoại được thưởng huy chương kháng chiến hạng Nhất, ông ngoại được tặng huy chương kháng chiến hạng Nhì nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự đề nghị xử bị cáo với mức án thấp nhất.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài và trả nợ, vào tháng 4 năm 2022, Phạm Thanh T đã đưa ra những thông tin gian dối có nhiều mối quan hệ xã hội và có đường dây riêng có thể làm được các thủ tục tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với diện tích được ghi trong các Giấy CNQSDĐ số BU 248738, số BU 248739 và số BU 248740, theo yêu cầu của bà L1 để chiếm đoạt số tiền 600.000.000đ. Hành vi của bị cáo Phạm Thanh T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; đã xâm hại đến khách thể quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần quyết định mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, gia đình bị cáo có bà ngoại được thưởng huy chương kháng chiến hạng Nhất, ông ngoại được tặng huy chương kháng chiến hạng Nhì nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà L1 số tiền 700.000.000₫ bà L1 không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

[6] Về vật chứng: Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6-5G, vì không liên quan đến việc phạm tội.

[7] Đối với Bùi Thị Kiều L2, được T nhờ nộp hồ sơ đất của vợ chồng bà L1 để đo đạc diện tích làm thủ tục tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng L2 không biết đây là thủ đoạn của T sau khi chiếm đoạt tiền của bà L1 nên không có căn cứ để xử lý với vai trò đồng phạm.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
    Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/10/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
    Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno6-5G (nhưng tiếp tục tạm giữ điện thoại để đảm bảo Thi hành án).
    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/4/2024)
  3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSNDCC tại Tp HCM (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng PV06 CA Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02);
  • - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Trại tạm giam (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (03);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Lưu Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm thanh tài lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger