Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HNGĐ - ST

Ngày: 16-7-2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn

Bà Nguyễn Thị Lại

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án thị xã V, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H – sinh năm 1984 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Dương Trung V, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn Đỗ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi đăng ký kết hôn chị và anh V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 17/12/2004. Anh chị có được tổ chức cưới theo phong tục tập quán ngày 06/11/2004 (âm lịch). Sau khi cưới thì chị có về nhà anh V làm dâu ngay, ban đầu ở chung cùng gia đình anh V, sau đó thì ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Khi phát sinh mâu thuẫn có được hai bên gia đình và vợ chồng tự hòa giải để đoàn tụ nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 27/01/2023 âm lịch, từ khi ly thân chị về nhà mẹ đẻ sinh sống. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ sinh sống anh V có sang nhà mẹ đẻ chị đón gọi chị về 01 lần nhưng chị không đồng ý đoàn tụ nên chị không về. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Dương Thị Thanh H1 sinh ngày 31/10/2005 và Dương Trung H2 sinh ngày 03/11/2008. Hiện cháu H1 đã trưởng thành chị không yêu cầu giải quyết, cháu H2 hiện đang ở cùng chị. Ly hôn chị tôn trọng nguyện vọng của cháu H2, cháu H2 có nguyện vọng ở với anh V, tuy nhiên để đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện, chị đề nghị Tòa án giao cháu H2 cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị và anh V tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Do điều kiện công việc của chị H không thể đến Tòa án làm việc được, chị đã có lời khai trong hồ sơ nên chị đề nghị Toà án xét xử vắng mặt chị.

Bị đơn anh Dương Trung V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên anh V không đến Tòa án làm việc, không cung cấp bản tự khai, không tham gia hòa giải, phiên tòa. Do vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh V cũng như không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.

Xác minh tại địa phương: Ban lãnh đạo thôn H cung cấp: chị Đỗ Thị H và anh Dương Trung V kết hôn và chung sống với nhau tại UBND xã T từ năm 2004. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung. Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ khi nào và nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì địa phương không nắm được vì hai bên không báo cáo chính quyền địa phương và không yêu cầu hòa giải. Tuy nhiên theo địa phương nắm được thì chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh V, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về việc giao văn bản tố tụng của Tòa án cho anh V: sau khi nhận văn bản tố tụng của Tòa án, ban lãnh đạo thôn đã giao lại văn bản ngay trong ngày cho anh V, anh V không có ý kiến gì.

Tại phiên toà hôm nay, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của các đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của pháp luật. Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Về ý kiến giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX Áp dụng các Điều 56; 57; 58; 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 BLTTDS;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Dương Trung V.

Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị H được nuôi dưỡng cháu Dương Trung H2 sinh ngày 03/11/2008. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Dương Trung V, địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về việc vắng mặt chị H, anh vinh: Tại phiên toà chị H vắng mặt nhưng chị đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Dương Trung V đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh V theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện ngày 17/12/2004 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân từ ngày 27/01/2023 cho đến nay, từ khi ly thân chị H chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã T. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Anh V không có lời khai thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên qua xác minh thì thấy thực sự mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị H xin ly hôn anh V là có căn cứ cần chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Dương Trung V có 02 con chung là cháu Dương Thị Thanh H1 sinh ngày 31/10/2005 và cháu Dương Trung H2 sinh ngày 03/11/2008. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; đối với cháu Dương Trung H2 hiện đang ở cùng chị H, quá trình Tòa án giải quyết vụ án cháu H2 có bản tự khai trình bày nguyện vọng muốn ở với anh V sau khi chị H anh V ly hôn, anh V không có lời khai thể hiện quan điểm về việc nuôi con sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi cháu H2 sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu H2 đang ở cùng chị H, đời sống được đảm bảo, do vậy cần giao Dương Trung H2 cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, HĐXX không xem xét trong vụ án này.

[5] Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Chị Đỗ Thị H, anh Dương Trung V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, chị Đỗ Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, cần áp dụng các Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56; 57; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Quan hệ vợ chồng: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Dương Trung V

Con chung: Giao cháu Dương Trung V sinh ngày 03/11/2008 cho chị Đỗ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

Án phí: Chị Đỗ Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai 000327 ngày 21/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Chị H đã nộp đủ án phí DSST.

Báo cho đương sự vắng mặt biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Việt Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Việt Yên;
  • - UBND xã Tiên Sơn (ĐKKH số 49 ngày 17/12/2004).
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HNGĐ - ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: /2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Đỗ Thị H ly hôn anh Dương Trung V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger