Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-5-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước.
  • Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm Sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1986 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Số A T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Bị đơn: Ông Lê Phúc Đ, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 25 tháng 01 năm 2024, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông Đ đăng ký kết hôn ngày 01/8/2008 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống, giữa ông bà thường xuyên cãi nhau vì ông Đ hay đi nhậu, lâu dần tình cảm phai nhạt. Thời gian gần đây, ông Đ làm thêm nghề tài xế, thường xuyên vắng nhà nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà T đã nhiều lần nói chuyện với ông Đ nhưng không thay đổi được gì, tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Ngọc T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Phúc Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có 01 con chung là Lê Phương N, sinh ngày 11/02/2011. Sau khi ly hôn bà Trần Ngọc T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Phương N cho đến tuổi trưởng thành và yêu cầu ông Lê Phúc Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi. Theo bà T hiện nay bà đang là giáo viên ở Trường THCS T1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và có mua bán thêm, thu nhập ổn định mỗi tháng 9.000.000 đồng. Đối với ông Lê Phúc Đ hiện nay cũng đang là giáo viên ở Trường THPT V, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thu nhập mỗi tháng 9.000.000 đồng. Ngoài ra, những khi không đi dạy, ông Đ còn làm tài xế thêm, đối với thu nhập thêm này thì bà T không biết, số tiền cụ thể bao nhiêu.

Về tài sản chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Phúc Đ: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Lê Phúc Đ không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Lê Phương N ngày 06/3/2024, cháu N trình bày: Cháu là con ruột của bà Trần Ngọc T và ông Lê Phúc Đ; theo cháu N, cháu đang học lớp 5, Trường Trung học Cơ sở D, Phường B, thành phố S. Hiện nay cha mẹ cháu vẫn sống chung nhà. Nay cha mẹ cháu ly hôn, cháu Lê Phương N có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là Trần Ngọc T.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Trần Ngọc T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung bà vẫn giữ nguyên yêu cầu và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T nhận thấy bà đủ điều kiện để nuôi con nên không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn bà Trần Ngọc T thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn ông Lê Phúc Đ không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Ngọc T được ly hôn với ông Lê Phúc Đ; Về con chung giao cháu Lê Phương N cho bà Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Do bà Trần Ngọc T không yêu cầu ông Lê Phúc Đ cấp dưỡng nuôi cháu N nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung do bà Trần Ngọc T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết đề nghị không xem xét. Về nợ chung, do bà Trần Ngọc T trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]. Nguyên đơn bà Trần Ngọc T khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Lê Phúc Đ; cư trú tại số A T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Lê Phúc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Cũng tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu quy định tại Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về nội dung vụ án:

[4]. Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Ngọc T, thấy rằng:

Bà Trần Ngọc T và ông Lê Phúc Đ chung sống với nhau và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67, đăng ký ngày 01 tháng 8 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Tại thời điểm kết hôn thì bà Trần Ngọc T và ông Lê Phúc Đ đủ điều kiện kết hôn và thực hiện việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân giữa ông, bà được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, bà T và ông Đ chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Bà T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do tính chất công việc nên ông Đ thường xuyên vắng nhà, không quan tâm, chăm sóc vợ con nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, không thể hàn gắn được. Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ 02 (hai) lần nhưng ông Đ vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Như vậy, theo quy định trên thì bà T và ông Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Trần Ngọc T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Phúc Đ là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về nuôi con chung: bà Trần Ngọc T trình bày, trong thời gian bà và ông Đ chung sống có với nhau 01 người con chung tên Lê Phương N, nữ, sinh ngày: 11/02/2011. Hiện đang sống cùng với vợ chồng ông bà tại số A T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Bà Trần Ngọc T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Phương N đến khi đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Lê Phương N là nữ nên cần được sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển của cháu. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Lê Phương N ngày 06/3/2024, cháu N có nguyện vọng được sống cùng với bà Trần Ngọc T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc T, giao cháu Lê Phương N cho bà Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, ông Lê Phúc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này thì ông Lê Phúc Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N. Tuy nhiên, do bà T trình bày, bà đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về tài sản chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về nợ chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn bà Trần Ngọc T phải chịu số tiền 300.000 đồng, theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ1 a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc T.
    • Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Ngọc T và ông Lê Phúc Đ.
    • Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Phương N, nữ, sinh ngày: 11/02/2011 cho bà Trần Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
    • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Trần Ngọc T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Ông Lê Phúc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
    • Về tài sản chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Về nợ chung: Bà Trần Ngọc T trình bày, bà và ông Lê Phúc Đ không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Bà Trần Ngọc T phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001455, ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà Trần Ngọc T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  3. Nguyên đơn bà Trần Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị đơn ông Lê Phúc Đ không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - UBND xã Mỹ Hương, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger