|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 30/2024/HS-PT Ngày 16 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Thu Huyền
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ và kháng cáo của người bị hại ông Triệu Sinh K đối với Bản án hình sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
1. Bị cáo không kháng cáo:
1.1. Họ và T: Triệu Sinh M, sinh ngày 21/9/1983, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi thường trú: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Dao. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá lớp: 02/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Triệu Văn L, sinh năm 1952; con bà Triệu Thị L1, sinh năm 1952. Bị cáo có vợ là Triệu Thị H, sinh năm 1987 và 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án + Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 26/11/2016 bị cáo Triệu Sinh M bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000đ về hành vi đánh bạc.
Bị cáo Triệu Sinh M không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện nay bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu X, xã C, huyện T (có mặt).
1.2. Bị cáo Triệu Sinh T1, sinh ngày 16/7/1993, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi thường trú: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Dao. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá lớp: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Triệu Văn L, sinh năm 1952; con bà Triệu Thị L1, sinh năm 1952.
Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án + Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 04/11/2019 bị cáo Triệu Sinh T1 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 750.000đ về hành vi đánh nhau.
Bị cáo Triệu Sinh T1 không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện nay bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu X, xã C, huyện T (Có mặt).
2. Người bị hại kháng cáo:
Ông Triệu Sinh K, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Triệu Sinh K: Bà Tạ Thị Khánh C và bà Bùi Thị C1 - Luật sư Công ty L2.
Cùng địa chỉ: Số D, N, phường M, quận N, TP Hà Nội (cùng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
3.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Triệu Văn L, sinh năm 1952
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
3.2. Chị Lý Thị T2, sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
4. Người chứng kiến:
4.1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năn 1968
Địa chỉ: Khu S, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
4.2. Bà Lý Thị N, sinh năm 1947
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
4.3. Chị Triệu Thị H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
4.4. Chị Lý Thị T2, sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Không báo đến phiên tòa, vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 là con trai của ông Triệu Văn L, thường trú tại khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bản thân T1 ở cùng nhà với ông L, M được ông L cho đất làm nhà ở riêng nhưng cũng trên thửa đất của ông L. Khoảng đầu tháng 4/2022, ông L nói chuyện với M và T1 về việc mở rộng lối cổng đi vào nhà. Sau đó, giữa ông L, M và T1 thống nhất làm và giao cho M thuê máy múc, T1 quán xuyến việc máy múc khi làm đường.
Ngày 09/4/2022, M thuê máy múc của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1968, thường trú tại khu S, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ để múc san gạt đất mở rộng lối đi vào nhà ông L. Khi anh T3 điều khiển máy múc đến san gạt đất thì T1 trực tiếp chỉ đạo, yêu cầu anh T3 múc san gạt đất. Phần đất múc san gạt của nhà ông L giáp ranh với đất nhà ông Triệu Sinh K. Anh T3 làm từ ngày 09/4/2022 đến sáng ngày 11/4/2022 thì ông K không có ý kiến gì và cũng không xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp gì về việc san gạt đất.
Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/4/2022, anh T3 đang điều khiển máy múc làm thì ông K đi từ nhà ra đứng trước máy múc ngăn cản và nói “Không cho múc, đợi gọi địa chính xã vào xác định đất của ai thì mới cho múc” và xua tay ý không cho múc nên anh T3 dừng lại. Lúc này, T1 một tay bế con đứng gần máy múc và nói với ông K “Đất của anh thì anh làm hết rồi, địa chính cũng vào đo rồi, còn lại của em thì em làm”. Nghe thấy tiếng tranh cãi giữa T1 và ông K nên M đi từ nhà sang vị trí múc đất (nhà M ở giáp nhà ông K) vừa đi M vừa nói với T1 “Đất của ông K ông múc hết rồi còn lại là đất của mày, mày cứ múc đi, nó cản trở thì đánh bỏ mẹ nó đi”. Ông K nói tiếp “Không cho múc, tao gọi địa chính vào xác định xem đất của ai thì mới cho múc”. Nghe ông K nói vậy thì M nói “Gọi một lần rồi đất của ông ông làm đất của tôi tôi làm”. Ông K kiên quyết không cho máy múc làm nên M nói “Mày không cho múc tao đánh bỏ mẹ mày”. Trước đó giữa gia đình ông K và ông L đã có tranh chấp đất giáp danh giữa hai nhà và ông K đề nghị chính quyền địa phương giải quyết. Ngày 19/3/2014, chính quyền địa phương gồm cán bộ địa chính, trưởng khu, công an viên, ông K, ông L ra tại thực địa đất đang có tranh chấp, tiến hành xác định rõ mốc giới phần đất giữa hai nhà, thống nhất lập biên bản làm việc được ông K, ông L xác nhận ký biên bản. Đến khoảng tháng 6/2016, thì ông K tiếp tục có đơn đề nghị giải quyết phần đất tranh chấp thì được chính quyền địa phương, địa chính, trưởng khu, công an xã đến giải quyết và hai bên thống nhất mốc giới như biên bản làm việc ngày 19/3/2014 nhưng không lập biên bản). Lúc này ông K đang đứng trên taluy dương phần đất giáp ranh giữa nhà ông K và nhà ông L có độ cao khoảng 60cm, M đi vòng ra phía sau ông K, khi cách ông K khoảng 01 mét dùng chân phải đạp một cái trúng lưng của ông K khiến ông K loạng choạng tiến và ngã sấp về phía trước xuống phần đất lối đi vào nhà ông L, hai tay chống xuống đất, hai đầu gối và hai mũi bàn chân chạm đất tư thế như đang bò. Tiếp theo, M nhảy xuống dùng tay tát liên tiếp 03 cái, đấm 01 cái trúng vào vùng mặt của ông K. Ông K vùng dậy được, giữa M và ông K giằng co du đẩy nhau làm ông K ngã ngồi xuống đất, M lao đến dùng tay đấm nhiều cái trúng vùng mặt của ông K. Lúc này, T1 đưa con cho chị H là vợ của M bế. Sau đó, T1 chạy đến chỗ ông K dùng tay đấm nhiều cái trúng vào vùng mặt của ông K (Bản thân ông K khai sau khi bị ngã sấp thì M có dùng chân đá 01 cái trúng vào vùng hông bên phải của ông K khiến ông K ngã ngửa sau đó M dùng đầu gối và cẳng chân trái tỳ đè lên vùng ngực của ông K, tay trái của M giữ lấy cổ tay phải của ông K trước ngực ông K, tay phải đấm nhiều cái trúng vào vùng mặt của ông K, T1 đưa con cho chị H sau đó chạy đến chỗ ông K dùng tay đấm nhiều cái trúng vào vùng mặt của ông K). Sau đó bà Lý Thị N là mẹ ông K, bà Lý Thị T2 là vợ ông K và chị H vào can ngăn, thấy ông K bị chảy máu ở mũi nên M và T1 không đánh ông K nữa. Sau đó, ông K đi về nhà và đi điều trị thương tích tại Trung tâm y tế huyện T từ ngày 11/4/2022 đến ngày 18/4/2022 thì ra viện và tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Q - Hà Nội từ ngày 20/4/2022 đến ngày 29/4/2022 thì ra viện.
Sau khi sự việc xảy ra, ngày 19/4/2022 bà Lý Thị T2, là vợ của ông Triệu Sinh K đã trình báo Công an xã C đề nghị giải quyết theo quy định. Đến ngày 06/5/2022 sự việc đã được Công an xã C chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 07/6/2022 cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định Trung tâm pháp y tỉnh P giám định thương tích của ông Triệu Sinh K. Kết quả ngày 14/6/2022, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ôngTriệu Sinh Khoa là: 09%.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thông báo kết quả giám định cho ông Triệu Sinh K. Tuy nhiên ông K không đồng ý với kết quả giám định vì cho rằng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quá thấp so với thương tích và có đơn đề nghị giám định lại. Do vậy ngày 04/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định lại lần thứ nhất trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định thương tích của ông Triệu Sinh K. Kết quả ngày 29/7/2022, V kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Triệu Sinh K là 09%.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Văn phòng Đ và phát triển quỹ đất huyện T và chính quyền địa phương xác định phần đất gia đình ông Triệu Văn L đã múc san gạt thuộc quyền sử dụng của ai. Kết quả xác định phần đất mà gia đình ông L đã múc san gạt thuộc quyền sử đụng đất của nhà ông L, phần đất đã múc không xâm phạm sang ranh giới đất của nhà ông K.
Trên cơ sở điều tra, kết luận giám định Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 48 ngày 25/8/2022 theo khoản 2 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự với lý do “Hành vi không cấu thành tội phạm”.
Sau khi ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm, ông Triệu Sinh K có đơn khiếu nại Quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra. Quá trình giải quyết khiếu nại, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có Công văn yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 02 ngày 06/9/2022 và Quyết định không khởi tố số 48, ngày 25/8/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Ngày 14/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại số 02 ngày 06/9/2022 và Quyết định không khởi tố số 48, ngày 25/8/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Ngày 16/8/2022, Triệu Sinh K cung cấp Phiếu khám chuyên sâu tai mũi họng ghi ngày 16/8/2022 tại Phòng khám tai mũi họng - Khoa khám bệnh Bệnh viện B do Bác sỹ Nguyễn Văn H1 ký, chuẩn đoán: “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” và có đơn đề nghị giám định bổ sung. Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi Trung tâm pháp y tỉnh P về việc trao đổi một số vấn đề chuyên môn trong công tác giám định pháp y. Trung tâm pháp y tỉnh P có công văn trả lời:
Giám định mất ngửi có trong Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tại C: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do bệnh, tật Tai M; phần VI: Bệnh mũi xoang; mục 4: Bệnh lý vách ngăn; Mục 4.1: Dị hình vách ngăn. Giám định mất ngửi cho bệnh nhân là một việc khám thuộc chuyên khoa sâu vượt quá khả năng chuyên môn của Trung tâm pháp y tỉnh P.
Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi K1 - Bệnh viện B về việc trao đổi đề nghị K1 - Bệnh viện B trả lời: Ông K có đến khám bệnh tại Khoa Tai M - Bệnh viện B ngày 16/8/2022 không? Nếu có Phiếu khám nội soi tai mũi họng ghi ngày 16/8/2022 thì chữ số ghi tháng cần theo dõi vẹo mũi của ông K (chữ số 4) trong phiếu khám có bị sửa chữa không? Nếu có bị sửa chữa thì thời gian theo dõi là bao nhiêu? Việc ông K đi khám, bác sỹ chuẩn đoán: “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” ngày 16/8/2022 có phải do bị đánh gây nên không? Có xác định được nguyên nhân, cơ chế hình thành, thời điểm xuất hiện hiện tượng mất ngửi của ông Triệu Sinh K không.
Ngày 12/01/2023, Bệnh viện B trả lời: Về việc chữ số 4 trong chẩn đoán có bị sửa chữa hay không thì Bệnh viện không thể khẳng định do thời gian khám đã lâu. Tuy nhiên, Bệnh viện cũng làm rõ số tháng này không phải là thời gian theo dõi bệnh mà là khoảng thời gian tính từ thời điểm người bệnh bị chấn thương đến ngày người bệnh đến khám (ngày 16/8/2022). Khoảng thời gian này do người bệnh tự cung cấp cho bác sỹ.
Việc người bệnh được chẩn đoán: “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” không thể kết luận là do nguyên nhân gì vì người bình thường cũng có thể bị vẹo vách ngăn mũi.
Chưa thể xác định được nguyên nhân, cơ chế hình thành và thời điểm mất ngửi của người bệnh Triệu Sinh K vì mất ngửi là dấu hiệu chủ quan do người bệnh tự khai. Ngày 16/10/2022, sau khi khám và nội soi, bác sỹ đã chuyển người bệnh đến khám chuyên sâu tai mũi họng. Tại đây, người bệnh được chỉ định làm thêm các thăm dò: test ngửi, chụp cắt lớp vi tính sọ não nhưng người bệnh từ chối làm nên Bệnh viện không có đủ cơ sở để kết luận.
Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi V về việc giám định thương tích: Ngày 26/8/2022, ông K cung cấp Phiếu khám nội soi tai mũi họng ghi ngày 16/8/2022 tại Phòng khám T6 mũi họng - Khoa khám bệnh của Bệnh viện B do bác sỹ Nguyễn Văn H1 ký, chuẩn đoán: “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” và có đơn đề nghị giám định bổ sung. Để có căn cứ xem xét có tiến hành giám định bổ sung đối với ông K hay không? Cơ quan CSĐT Công an huyện T trao đổi và đề nghị Viện Pháp y quốc Gia trả lời những nội dung sau: Việc ông K đi khám, bác sỹ chuẩn đoán “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” ngày 16/8/2022 có phải do bị đánh ngày 11/4/2022 gây nên không? Nếu tiến hành giám định có được sếp tỷ lệ phần trăm quy định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần không? Nếu tiến hành giám định bổ sung có xác định được nguyên nhân, cơ chế hình thành, thời điểm xuất hiện hiện tượng mất ngửi của ông Triệu Sinh K không?
Ngày 13/01/2023, Viện pháp y V có công văn số 25/PYQG-GĐ trả lời: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, không quy định xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với mất ngửi. Về việc ông Triệu Sinh K đi khám, bác sỹ chẩn đoán: “Theo dõi vẹo vách ngăn trái sau chấn thương 4 tháng/mất ngửi” ngày 16/8/2022 đây là chẩn đoán “Theo dõi”, không phải chẩn đoán xác định chính xác. Hơn nữa, các triệu chứng trên không xác định được có phải do bị đánh ngày 11/4/2022. Do vậy, nếu tiến hành giám định bổ sung sẽ rất khó xác định hoặc có thể không đủ căn cứ để xác định nguyên nhân, cơ chế hình thành và thời điểm vẹo vách ngăn/mất ngửi của ông K.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và có văn bản yêu cầu Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra quyết định khởi tố bị can đối với Triệu Sinh M và triệu Sinh T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can đối với Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Các quyết định nêu trên của CQCSĐT - Công an huyện T đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện T kiểm sát và phê chuẩn để tiến hành điều tra theo quy định.
Tại CQCSĐT - Công an huyện T, Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 thành khẩn khai báo toàn bộ nội dung hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 phù hợp với tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được.
Xét nguyên nhân phạm tội: Chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt khi ông Triệu Sinh K thấy T1 múc đất có ra đứng trên phần đất nhà ông K khua tay và nói không cho máy múc làm nữa và đề nghị chính quyền xã đến đo đạc rồi mới cho múc đất, nhưng M không đồng ý với quan điểm của ông K thì M có hành vi dùng chân đạp ngã ông K, M và T1 dùng chân tay đấm đá ông K ông Triệu Sinh K, làm ông K bị tổn thương 9%. Hành vi của Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 là hành vi “Cố ý gây thương tích” đã thể hiện “Có tính chất côn đồ”. Hành vi của Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác.
Bản án hình sự sở thẩm số 09/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào điểm i, Khoản 1, Điều 134, điểm i, điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, Khoản 2, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Triệu Sinh M; bị cáo Triệu Sinh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Xử phạt bị cáo: Triệu Sinh Mạnh 12 (Mười hai) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Sinh M cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
2. Xử phạt bị cáo: Triệu Sinh Thủy 09 (Chín) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Sinh T1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Triệu sinh M1, bị cáo Triệu Sinh T1 phải liên đới bồi thường cho bị hại ông Triệu Sinh K số tiền là 70.940.000₫ (Bảy mươi triệu chín trăm bốn mươi ngàn đồng) (Tròn số) Gồm các khoản:
- - Tiền viện phí tại Trung tâm y tế huyện T = 6.524.604đồng;
- - Tiền viện phí tại Bệnh viện Q, Hà Nội = 5.896.252đ (kèm theo hóa đơn chứng từ)
- - Tiền khám chữa bệnh; Tiền thuốc điều trị; Tiền vật tư y tế; Tiền siêu âm tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện Q, Hà Nội = 6.719.006đồng; (kèm theo hóa đơn chứng từ)
- - Tiền mất thu nhập của bị hại trong thời gian nghỉ điều trị là 300.000đ/1 ngày x 18 ngày = 5.400.000đồng;
- - Tiền mất thu nhập người chăm nuôi bị hại là 300.000đ/1 ngày x 18 ngày = 5.400.000đồng;
- - Tiền nghỉ việc sau khi ra viện là 300.000đ/1 ngày x 20 ngày = 6.000.000đồng;
- - Tiền bồi dưỡng sức khỏe = 10.000.000đồng;
- - Tiền thuê xe ô tô đi từ xã C, huyện T đến Trung tâm y tế huyện T và ngược lại là 1.500.000đ/1 lượt x 02 lượt = 3.000.000đồng;
- - Tiền thuê xe ô tô đi từ xã C, huyện T đến Bệnh viện Q, Hà Nội và ngược lại là 2.000.000đ/1 lượt x 02 lượt = 4.000.000đồng;
- - Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định: 10 tháng x 1.800.000đ/1 tháng = 18.000.000đồng.
Kỷ phần:
Bị cáo Triệu Sinh M phải bồi thường cho ông Triệu Sinh K số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
Bị cáo Triệu Sinh T1 phải bồi thường cho ông Triệu Sinh K số tiền là 30.940.000₫ (Ba mươi triệu chín trăm bốn mươi ngàn đồng).
Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, lãi suất, án phí và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 11 tháng 3 năm 2024, người bị hại ông Triệu Sinh K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29/02/2024, của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, đề nghị tăng mức hình phạt, áp dụng hình phạt tù đối với cả hai bị cáo và đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn về phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại, gồm:
- - Kháng nghị đối với số tiền bồi dưỡng sức khỏe của người bị hại: Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích người bị hại và người bị hại cùng thống nhất đề nghị bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe số tiền 3.100.000đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm lại quyết định các bị cáo phải bồi thường số tiền 10.000.000đồng là vượt quá yêu cầu bồi thường của người bị hại. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định “Về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự”, quy định như sau:
- “1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
- a) ....;
- b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;
- - Kháng nghị đối với tiền bồi thường do mất thu nhập của người bị hại và người chăm nuôi: Cấp sơ thẩm chưa làm rõ mức thu nhập bình quân đối với lao động cùng loại tại địa phương, trong khi người bị hại chỉ đề nghị giải quyết bồi thường mất thu nhập của mình mức 3.040.000đồng và mất thu nhập đối với người chăm sóc là 3.040.000đồng, nhưng cấp sơ thẩm lại quyết định mức bồi thường mất thu nhập của người bị hại là 5.400.000đồng và mất thu nhập đối với người chăm sóc 5.400.000đồng. Như vậy cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt quá yêu cầu của người bị hại, là chưa đúng nguyên tắc khi giải quyết bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
- - Kháng nghị đối với số tiền buộc bị cáo phải trả chi phí thuê xe đi điều trị của người bị hại: Tiền thuê xe đi từ xã C đến trung tâm y tế huyện T, người bị hại đề nghị bị cáo phải trả cả lượt đi và về là 800.000đồng (400.000đồng/1 lượt), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận mức chi phí là 3.000.000đồng và đối với tiền chi phí thuê xe ô tô trở ông K đi từ Trung tâm y tế huyện T đến bệnh viện Q để điều trị và lượt về, người bị hại và người bảo vệ quyền lợi người bị hại đề nghị mức 1600.000đồng (800.000đồng/1 lượt) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận mức 4.000.000đồng là vượt quá yêu cầu của người bị hại, là chưa đúng nguyên tắc khi giải quyết bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, qua thẩm vấn công khai, các bị cáo đều có quan điểm nhất trí giữ nguyên các khoản bồi thường của các bị cáo đối người bị hại như bản án cấp sơ thẩm đã quyết định. Xét thấy, quan điểm của hai bị cáo là tự nguyện và để đảm bảo quyền lợi cho người bị hại, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị số 71/KN-VKS-P7 ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại giữ nguyên kháng cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ và kháng cáo của người bị hại thực hiện trong hạn luật định được chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2022, tại khu X, xã C, huyện T, do ông Triệu Sinh K không đồng ý về việc gia đình ông Triệu Văn L múc đất giáp ranh giữa hai gia đình ông L và ông K, nên bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1; đều thường trú khu X, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ có hành vi dùng chân, tay đánh ông K gây thương tích, kết quả giám định đã xác định ông K bị tổn hại là 9% sức khỏe.
Xét nguyên phạm tôi thì thấy: Chỉ vì lý do nhỏ nhặt giữa hai bên nhưng bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1 đã dùng tay, chân đánh ông Triệu Sinh K gây thương tích. Như vậy, hành vi của Triệu Sinh M và Triệu Sinh T1 thể hiện tính côn đồ. Do vậy bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1 bị truy tố và xét xử về hành vi Cố ý gây thương tích, tình tiết định khung có tính chấp côn đồ, quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
a).
i) Có tính chất côn đồ.
[3] Xét kháng cáo của người bị hại đề nghị cấp phúc thẩm xử tăng hình phạt, áp dụng hình phạt tù giam và đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại của hai bị cáo đố với người bị hại.
3.1. Xét kháng cáo của người bị hại đối với yêu cầu tăng mức hình phạt và xử hình phạt tù đối với hai bị cáo thấy rằng:
Hành vi của hai bị cáo có tính chất côn đồ là tình tiết được áp dụng làm căn cứ định tội danh đối với hai bị cáo. Trong khi đó, khung hình phạt bị truy tố, xét xử thuộc tội phạm ít nghiêm trọng. Hai bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo; vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết trong vụ án và tuyên phạt bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1 hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không tiếp tục được áp dụng tiếp tình tiết phạm tội “Có tính chất côn đồ” theo hướng dẫn tại nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo để xác định bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo mới đảm bảo nguyên tắc không áp dụng một tình tiết hai lần, gây bất lợi cho bị cáo và Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Triệu Sinh M và xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Triệu Sinh T1 là phù hợp. Vì vậy, không có cứ để chấp nhận kháng cáo của người bị hại đề nghị tăng hình phạt và áp dụng hình phạt tù đối với cả hai bị cáo. Giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên.
3.2. Xét kháng cáo của người bị hại đề nghị buộc bị cáo phải tăng mức bồi thường thiệt hại thấy rằng:
Từ sau khi xét xử sơ thẩm đến tại phiên tòa hôm nay, người bị hại không cung cấp thêm được chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu đòi hai bị cáo phải tăng mức bồi thường cho mình; trong khi các khoản người bị hại đề nghị đều căn cứ vào hóa đơn do người bị hại cung cấp để quyết định là đúng pháp luật; đối với 03 khoản bồi thường Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị tính theo quy định của pháp luật thì lại giảm mức bồi thường thiệt hại của bị cáo đối với người bị hại. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người bị hại đề nghị hai bị cáo phải tăng bồi thường thiệt hại được. Nên phải bác nội dung kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại của người bị hại.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị tính đúng số tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền mất thu nhập, tiền chi phí đi lại cho người bị hại và người chăm nuôi theo đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và người bị hại không thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại, vì vậy, Hội đồng xét xử phải giải quyết theo quy định của pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị ba nội dung; vì vậy, phải xem xét từng nội dung cụ thể:
4.1. Xét kháng nghị của VKSND tỉnh Phú Thọ đối với số tiền bồi dưỡng sức khỏe của người bị hại: Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích người bị hại và người bị hại cùng thống nhất đề nghị 2 bị cáo bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe số tiền 3.100.000đồng. Do các bên không thỏa thuận được, nên phải căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định “Về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự” để giải quyết. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm lại quyết định các bị cáo phải bồi thường số tiền 10.000.000đồng không có căn cứ pháp luật và vượt quá yêu cầu bồi thường của người bị hại. Vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với nội dung này là có căn cứ.
4.2. Xét kháng nghị của VKSND tỉnh Phú Thọ đối với tiền mất thu nhập của người bị hại và người chăm nuôi thấy rằng: Ông K không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, cần căn cứ vào kết quả xác minh mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương mức 7.000.000đồng. Tương đương mức 233.388đồng/ngày x 18 ngày = 4.200.000đồng (làm tròn) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định mức 5.400.000đồngcho cả người bị hại và công người chăm sóc bị hại là giải quyết vượt quá yêu cầu của người bị hại. Vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với nội dung này là có căn cứ.
4.3. Xét kháng nghị của VKSND tỉnh Phú Thọ đối với số tiền buộc bị cáo phải trả chi phí thuê xe đi điều trị của người bị hại thấy rằng: Tiền thuê xe đi từ xã C đến trung tâm y tế huyện T, người bị hại đề nghị bị cáo phải trả cả lượt đi và về là 800.000đồng (400.000đồng/1 lượt), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận mức chi phí là 3.000.000đồng và đối với tiền chi phí thuê xe ô tô trở ông K đi từ Trung tâm y tế huyện T đến bệnh viện Q để điều trị và lượt về, người bị hại và người bảo vệ quyền lợi người bị hại đề nghị mức 1600.000đồng (800.000đồng/1 lượt) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận mức 4.000.000đồng là vượt quá yêu cầu của người bị hại, là chưa đúng nguyên tắc khi giải quyết bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với nội dung này là có căn cứ.
Như vậy, cả ba nội dung kháng nghị nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đều tính chưa đúng quy định của pháp luật và việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, qua thẩm vấn công khai, các bị cáo đều có quan điểm nhất trí giữ nguyên các khoản bồi thường của các bị cáo cho người bị hại như bản án cấp sơ thẩm đã quyết định. Xét thấy, quan điểm của hai bị cáo là tự nguyện và để đảm bảo quyền lợi cho người bị hại, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm; Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị số 71/KN-VKS-P7 ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Xét thấy, việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với kỷ phần bồi thường của các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
[5]. Về án phí: Người bị hại không thuộc đối tượng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ Điều 331, 336, 345; điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người bị hại Triệu Sinh K.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm i, K, Điều 134, điểm i, điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, Khoản 2, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Triệu Sinh M và bị cáo Triệu Sinh T1 đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2.1. Xử phạt bị cáo: Triệu Sinh Mạnh 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Sinh M cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
2.2. Xử phạt bị cáo: Triệu Sinh Thủy 09 (Chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Sinh T1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự;
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Triệu Sinh M, bị cáo Triệu Sinh T1 phải liên đới bồi thường cho bị hại ông Triệu Sinh K số tiền là 70.940.000₫ (Bảy mươi triệu chín trăm bốn mươi ngàn đồng) (Tròn số) Gồm các khoản:
- - Tiền viện phí tại Trung tâm y tế huyện T = 6.524.604₫ (Sáu triệu băn trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm linh bốn đồng);
- - Tiền viện phí tại Bệnh viện Q, Hà Nội = 5.896.252đ (Năm triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi hai đồng;
- - Tiền khám chữa bệnh; T4 thuốc điều trị; Tiền vật tư y tế; Tiền siêu âm tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện Q, Hà Nội = 6.719.006đ (Sáu triệu bẩy trăm mười chín nghín không trăm linh sáu đồng);
- - Tiền mất thu nhập của người bị hại trong thời gian nghỉ điều trị là 300.000đ/1 ngày x 18 ngày = 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).
- - Tiền mất thu nhập người chăm nuôi người bị hại là 300.000đ/1 ngày x 18 ngày = 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).
- - tiền nghỉ việc sau khi ra viện là 300.000đ/1 ngày x 20 ngày = 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
- - Tiền bồi dưỡng sức khỏe = 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
- - Tiền thuê xe ô tô đi từ xã C, huyện T đến Trung tâm y tế huyện T và ngược lại là 1.500.000đ/1 lượt x 02 lượt = 3.000.000₫ (Ba triệu đồng);
- - Tiền thuê xe ô tô đi từ xã C, huyện T đến Bệnh viện Q, Hà Nội và ngược lại là 2.000.000đ/1 lượt x 02 lượt = 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng);
- - Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định: 10 tháng x 1.800.000đ/1 tháng = 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng).
Kỷ phần bồi thường như sau:
Buộc bị cáo Triệu Sinh M phải bồi thường cho ông Triệu Sinh K số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
Buộc bị cáo Triệu Sinh T1 phải bồi thường cho ông Triệu Sinh K số tiền là 30.940.000₫ (Ba mươi triệu chín trăm bốn mươi ngàn đồng).
Án phí sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T5, M2, G, T5, N1, Quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Triệu Sinh M phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) án phí Dân sự trong vụ án Hình sự. Tổng cộng là 2.200.000đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo Triệu Sinh T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 1.547.000đ (Một triệu năm trăm bốn bảy ngàn đồng) án phí Dân sự trong vụ án Hình sự. Tổng cộng là 1.747.000đồng (Một triệu bẩy trăm bốn mươi bẩy nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Triệu Sinh M, bị cáo Triệu Sinh T1, người bị hại ông Triệu Sinh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 30/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 30/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
