Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DS-ST

Ngày: 16-5-2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Chanh.

Bà Phan Thị Trang Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Gây là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2023/TLST–DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Văn Yến N, sinh năm: 1995 (xin vắng).

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1998 và ông Văn Thành N1, sinh năm 1994 (chồng bà D), (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Văn Yến N trình bày: Bà N có tham gia vào hụi do bà Nguyễn Thị D làm chủ, hụi khui theo hình thức bốc thăm có lãi. Bà N tham gia nhiều dây hụi cho đến ngày 01/10/2023 thì bà D tuyên bố đình hụi mà không có lý do chính đáng.

Sau khi đình hụi xong cho đến ngày 01/10/2023 giữa bà N và bà D cùng ông N1 có tính toán với nhau đi đến thống nhất là bà D cùng ông N1 phải có trách nhiệm trả cho bà N số tiền hụi 30.640.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng), bà D cùng ông N1 đã viết cho bà N một biên nhận.

Cụ thể các dây hụi bà N tham gia bên bà D cụ thể:

Dây hụi tuần số 01: Hụi 500.000 (tuần khui 01 lần) tháng khui 04 lần được khui vào ngày 19/06/2023 (dương lịch) tổng dây hụi tuần này là 18 chưng. Trong đó: Bà N vào 03 chưng (sống 01, chết 02). Khui được 15 lần hụi sống và bà N đóng được 15 lần hụi sống. Tổng cộng bà N đóng 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng).

Dây hụi tuần số 02: Hụi 500.000 (tuần khui 01 lần) tháng khui 04 lần được khui vào ngày 24/06/2023 (dương lịch) tổng dây hụi tuần này là 22 chưng. Trong đó: Bà N vào 02 chưng (sống 02). Khui được 16 lần hụi sống và bà N đóng được 16 lần hụi sống. Tổng cộng bà N đóng 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Dây hụi tuần số 03: Hụi 500.000 (tuần khui 01 lần) tháng khui 04 lần được khui vào ngày 29/07/2023 (dương lịch) tổng dây hụi tuần này là 20 chưng. Trong đó: Bà N vào 04 chưng (sống 04). Khui được 09 lần hụi sống và bà N đóng được 09 lần hụi sống. Tổng cộng bà N đóng 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

Hụi tuần 300.000 đồng (tuần khui 01 lần) được khui vào ngày 18/08/2023 (dương lịch). Tổng dây hụi tuần này gồm 20 chưng. Trong đó: Bà N vào 01 chưng. Khui được 07 lần hụi sống và bà N đóng được 07 hụi sống. Tổng 01 chưng. Bà N đóng được 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng).

Hụi tuần 300.000 đồng (tuần khui 01 lần) được khui vào ngày 07/08/2023 (dương lịch). Tổng dây hụi tuần này gồm 20 chưng. Trong đó: Bà N vào 03 chưng. Khui được 08 lần hụi sống và bà N đóng được 08 hụi sống. Tổng 03 chưng. Bà N đóng được 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng).

Tổng số tiền hụi sống mà bà N đóng cho bà D 50.800.000 đồng (Năm mươi triệu tám trăm ngàn đồng). Trừ đi tất cả hụi chết mà bà N đã nợ bà D là 20.160.000 đồng (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng). Số tiền còn lại mà bà D nợ bà N là 30.640.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng).

Tại đơn xin vắng mặt ngày 15/5/2024 bà N trình bày: Từ ngày nộp đơn khởi kiện đến nay thì phía bà D và ông N1 đã thanh toán cho bà tổng cộng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Nên nay bà Văn Yến N chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 cùng liên đới thanh toán số tiền là 29.640.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng). Ngoài ra, không còn yêu cầu nào khác.

* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà bà D và ông N1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc bà N khởi kiện; Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà D và ông N1 vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn bà Văn Yến N có đơn xin vắng.
  • - Bị đơn bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền nợ hụi nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hụi” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự, vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 cùng cư trú tại Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà D và ông N1.

[2]. Về nội dung vụ án.

Bà Văn Yến N với vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 giao dịch hụi với nhau. Do Vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn T Ngọc đình hụi không thanh toán nên phats sinh tranh chấp.

Nay bà Văn Yến N yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 cùng liên đới thanh toán số tiền là 30.640.000 đồng. Ngoài ra, không còn yêu cầu nào khác.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Văn Yến N:

Bà N có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị D làm chủ, hụi khui theo hình thức bốc thăm có lãi. Bà N tham gia nhiều dây hụi cho đến ngày 01/10/2023 thì bà D tuyên bố đình hụi mà không có lý do chính đáng.

Sau khi đình hụi đến ngày 01/10/2023 giữa bà N và bà D cùng ông N1 có tính toán với nhau đi đến thống nhất là bà D cùng ông N1 phải có trách nhiệm trả cho bà N số tiền hụi 30.640.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), bà D cùng ông N1 đã viết cho bà N một biên nhận (Giấy nhận nợ ngày 15/10/2023 có chữ ký của bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1). Như vậy, việc giao dịch hụi giữa bà Văn Yến N với vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 là thực tế có xảy ra.

Căn cứ vào biên nhận thì bà D và ông N1 còn nợ bà N 30.640.000 đồng. Từ khi nộp đơn khởi kiện đến nay thì phía bà D và ông N1 đã thanh toán thêm cho bà N được 1.000.000 đồng. Nên bà Văn Yến N yêu cầu bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 cùng liên đới thanh toán số tiền còn lại là 29.640.000 đồng là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận. Theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi.

Kể từ ngày bà Văn Yến N có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng bà D và ông N1 chậm thanh toán cho bà N số tiền nêu trên thì hàng tháng vợ chồng bà D và ông N1 còn phải liên đới chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Văn Yến N được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa bà Văn Yến N đối với bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 về yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn Thành N1 có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Văn Yến N số tiền là 29.640.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bà Văn Yến N có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng bà Nguyễn Thị D và ông Văn T N1 chậm thanh toán cho bà N số tiền nêu trên thì hàng tháng vợ chồng bà D và ông N1 còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Vợ chồng bà Nguyễn Thị D và Văn Thành N1 phải liên đới chịu án phí với số tiền 1.482.000 đồng.

Bà Văn Yến N không phải chịu án phí dân sự, bà N được nhân lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 766.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0016352 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 30/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger