Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Minh; Bà Vũ Thị Lan Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị KimThoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị D - Sinh ngày 05/8/1982 tại huyện L, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ I, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Q; Con bà Trần Thị V; Bị cáo có chồng thứ nhất là Hà Vũ M (Đã chết năm 2008), chồng thứ hai Lê Hữu S (đã ly hôn); Bị cáo có 04 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ I, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, Lê Thị D đi bộ từ nơi ở tổ D, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đến khu vực cổng chào L, thuộc tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai gặp một người nam giới tên Đ (không biết căn cước, lai lịch) đang đứng một mình ở ven đường. Lê Thị D đi lại gần và hỏi “Có ngựa ngon không cho chị một ít chơi thử”, Đ đồng ý. Sau đó Đ đưa cho Lê Thị D 10 (mười) viên ma túy hồng phiến, Lê Thị D cầm số ma túy trên về nhà cất giấu. Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 08/01/2024, do không có tiền nên Lê Thị D mang ma tuý đi bán, Lê Thị D cho 10 viên ma túy hồng phiến vào một túi nilon có mép miết, bên ngoài là lớp giấy cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P5 - 1058 đi tìm người mua với giá 80.000 đồng/viên. Khi Lê Thị D đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P5 - 1058, đến khu vực tổ A, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác Công an tỉnh L, yêu cầu kiểm tra, bắt giữ. Quá trình kiểm tra có mời anh Đặng Anh D1 (sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) là người chứng kiến. Trước sự có mặt của người chứng kiến, Lê Thị D khai nhận bản thân đang cất giấu ma túy trên người và tự mở lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy mềm, bên trong có 01 túi nilon có mép miết, trong túi nilon chứa 10 viên nén màu hồng. Lê Thị D khai nhận đây là gói ma tuý hồng phiến của D mục đích để bán lấy tiền tiêu xài. Tổ công tác dẫn giải Lê Thị D cùng toàn bộ vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an phường C để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo qui định. Ngoài ra còn tạm giữ của Lê Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đen, xe cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 24P5 - 1058, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO.

Tại kết luận giám định số: 44/GĐMT ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 0,980 (không phẩy chín tám mươi) gam các viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Lê Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Lê Thị D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng vụ án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 05/01/2024 tại khu vực cổng chào L, tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai bị cáo Lê Thị D đã xin được của một người nam giới tên Đ 10 viên ma túy hồng phiến để sử dụng sau đó về nhà cất dấu. Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 08/01/2024, do không có tiền nên bị cáo nảy sinh ý định mang ma tuý đi bán. Bị cáo cho 10 viên ma túy hồng phiến vào một túi nilon có mép miết, bên ngoài là lớp giấy cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P5 - 1058 đi tìm người mua với giá 80.000 đồng/viên. Khi Lê Thị D đang điều khiển xe mô tô đến khu vực tổ A, phường C, thành phố L thì bị tổ công tác Công an tỉnh L kiểm tra, thu giữ 10 viên nén màu hồng, Lê Thị D khai nhận đây là gói ma tuý hồng phiến của Đ mục đích để bán lấy tiền tiêu xài.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma tuý bị cáo mua để bán là 0,980 gam chất ma tuý Methamphetamine. Như vậy, với hành vi và khối lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ông nội là Lê Duy T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là lao động tự do, nuôi 4 con nhỏ, không có tài sản, thu nhập gì vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Thị D: 0,980 gam chất ma túy Methamphetamine, sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,853 gam cần tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO thu giữ của Lê Thị D không liên quan đến việc phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đen, biển kiểm soát 24P5 - 1058, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thanh G (sinh năm 1986 trú tại tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai), Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố L đã trả lại chiếc xe trên cho chị G là đúng quy định pháp luật.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

- Căn cứ vào khoản 1điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lê Thị D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được khấu trừ 09 ngày tạm giữ.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,853 (không phẩy tám năm ba) gam chất ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L trên một mặt bì thư có ghi: “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị D tại tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai”;

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: Của bị cáo Lê Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu đỏ tím, mặt màn hình có nhiều vết nứt, vỡ, điện thoại lắp 02 sim, một sim có số thuê bao: 0978925751, trên sim có các dãy số: 8984, 04800, 09171,22087; một sim có số thuê bao: 0919867550, sim này có các dãy số: [...], 11497800605. IMEL 1: 860429049856610, máy cũ, thân vỏ nhiều lớp trầy xước.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

5

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, TP;
  • - Cơ quan ĐT Công an TP;
  • - Cơ quan THA HS;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - T.H.A DS;
  • - Lưu

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Tuyết Lanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger