|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:30/2023/DS-ST
Ngày: 15/8/2023
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiễu Hmok và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Sỹ Vũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa: Ông Từ Quốc Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 15/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-DS ngày 07/3/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-DS ngày 05/7/2023:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H (Hbank).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc Th – C/v: Tổng giám đốc.
Địa chỉ: Số 25 Bis Nguyễn Thị Minh K, phường B, Quận 1, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Bảo H – C/v: Giám đốc Trung tâm kiêm Trưởng phòng xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn H1 – C/v: Chuyên viên quan hệ khách hàng (văn bản uỷ quyền ngày 12/11/2022); Có mặt.
Địa chỉ: Số 10 Trần Hưng Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H (Vắng mặt);
Cùng trú tại: Thôn Bình M, xã Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Vào ngày 25/6/2021 Ngân hàng TMCP phát triển Tp H đã cho ông Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 10,8%/ năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 25/6/2022, theo hợp đồng tín dụng số 1442/19CNDL/HĐTD ký ngày 19/6/2019 và khế ước nhận nợ số 1442/19CNĐL/HĐTD/KUNN03 ngày 25/6/2021. Mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt. Khi vay ông T, bà H có bảo đảm các tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307 (20 cũ), tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 258686, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/04/2018 theo hợp đồng thế chấp số 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 20/6/2019.
Do ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc đến hạn như thảo thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, cụ thể khách hàng đã không trả gốc cho Ngân hàng khi khoản vay đến hạn ngày 25/6/2022, đến ngày 31/01/2023 có nộp vào cho Ngân hàng 10.892.252 đồng và được ngân hàng khấu trừ vào tiền gốc còn nợ lại 139.107.748 đồng, sau đó chưa trả số tiền gốc và lãi nào. Tính đến ngày 14/3/2023, tổng số tiền ông Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H còn nợ Ngân hàng là 158.255.490 đồng, trong đó nợ gốc là 139.107.748 đồng, lãi quá hạn là 19.147.742 đồng. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T, bà H trả số tiền gốc và lãi là 158.255.490 đồng và phần nợ lãi phát sinh đối với nợ còn lại theo mức thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H kể từ ngày 25/6/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị cho Ngân hàng yêu cầu thi hành án phat mãi tài sản đã thế chấp cho ngân hàng H Bank. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T, bà H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Bị đơn ông Hoàng Ngọc Tuy trình bày có nội dung:
Vào ngày 25/6/2021 vợ chồng tôi là Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H có vay của Ngân hàng TMCP phát triển Tp H số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 10,8%/ năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 25/6/2022, theo hợp đồng tín dụng số 1442/19CNDL/HĐTD ký ngày 19/6/2019 và khế ước nhận nợ số 1442/19CNĐL/HĐTD/KUNN03 ngày 25/6/2021. Mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt. Khi vay ông T, bà H có bảo đảm các tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307 (20 cũ), tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã Bình T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 258686, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/04/2018 theo hợp đồng thế chấp số 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 20/6/2019.
Trong quá trình vay thì vợ chồng tôi đã đóng lãi đầy đủ đến hạn trả nợ ngày 25/6/2022 do làm ăn kinh tế khó khăn, tiêu chết với dịch bệnh nên không có tiền trả tiền gốc cho Ngân hàng, tôi có liên hệ bên phía Ngân hàng nhờ cán bộ tín dụng đáo hạn ngân hàng nhưng phía Ngân hàng không cho tôi đáo hạn để vay lại. Đến tháng 11/2022 khi Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lãi suất cao thì phía Ngân hàng gọi tôi lên để đáo hạn Ngân hàng vay lại nhưng lãi suất cao nên tôi không đồng ý đáo hạn vay lại. Đến tháng 01/2023 thì tôi có trả cho Ngân hàng được 11.000.000 đồng, còn nợ lại 139.107.748 đồng tiền gốc. Nay Ngân hàng khởi kiện đòi tôi số tiền 158.255.490 đồng, trong đó nợ gốc là 139.107.748 đồng, lãi quá hạn là 19.147.742 đồng thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn, mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự xét có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Việc Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H với bị đơn ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Toà án giao các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn bà Lê Thị Thu H không chấp hành theo giấy triệu tập, không lên Tòa án để trình bày ý kiến của mình cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án giải quyết vụ án theo những căn cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 21/7/2023 Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng phía bị đơn bà Lê Thị Thu H vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa; Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H vắng mặt không có lý do căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Vào ngày 25/6/2021 giữa Ngân hàng Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với ông Hoàng Ngọc T, bà LÊ Thị Thu H có ký khế ước nhận nợ để vay tổng số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất là 10,8%/năm; lãi quá hạn là 150% so với lãi suất cho vay, mục đích vay bổ sung vốn trồng trọt.
Để đảm bảo cho hai khoản vay nói trên ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 19/6/2019 được công chứng tại văn phòng công chứng B. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Đến hạn trả nợ theo hợp đồng vay hai bên đã ký kết. Tuy nhiên ông T, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và lãi theo như hợp đồng đã ký kết.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thiết lập hai khế ước nhận nợ ngày 25/6/2021 giữa Ngân hàng với ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H vay của Ngân hàng tổng số tiền 150.000.000 đồng là có thật, việc xác lập hợp đồng vay tiền giữa các bên hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên cho vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 463 Bộ luật dân sự nhưng ông T, bà H chỉ trả được 10.892.252 đồng tiền gốc, sau đó đến hạn trả nợ không trả được khoản tiền gốc và lãi là vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự. Việc ông T, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H trả số tiền nợ gốc 139.107.748 đồng và và lãi quá hạn là 29.774.904 đồng (tính đến ngày 14/8/2023), đồng thời thu toàn bộ số tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 15/8/2023 theo khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi ông T, bà H trả hết nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với hợp đồng thế chấp số: 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 19/6/2019 đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi nợ là phù hợp với khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí:
Ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 207, Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. Buộc ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền là 168.882.655 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi lăm đồng), trong đó tiền nợ gốc là 139.107.748 đồng, tiền lãi quá hạn là 29.774.907 đồng (tính đến ngày 14/8/2023).
Kể từ ngày 15/8/2023 ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự thị xã B xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 19/6/2019 để thu hồi nợ.
Trường hợp ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H phải trả lại cho ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H các tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 19/6/2019.
2. Về án phí:
Bị đơn ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H phải chịu 8.444.132 đồng án phí Dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H 3.983.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2021/0018443 ngày 02/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã B.
Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Anh Tuấn |
Bản án số 30/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 25/6/2021 Ngân hàng TMCP phát triển Tp H đã cho ông Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 10,8%/ năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 25/6/2022, theo hợp đồng tín dụng số 1442/19CNDL/HĐTD ký ngày 19/6/2019 và khế ước nhận nợ số 1442/19CNĐL/HĐTD/KUNN03 ngày 25/6/2021. Mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt. Khi vay ông T, bà H có bảo đảm các tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307 (20 cũ), tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 258686, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/04/2018 theo hợp đồng thế chấp số 1350/19CNĐL/HĐBĐ ngày 20/6/2019. Do ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc đến hạn như thảo thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, cụ thể khách hàng đã không trả gốc cho Ngân hàng khi khoản vay đến hạn ngày 25/6/2022, đến ngày 31/01/2023 có nộp vào cho Ngân hàng 10.892.252 đồng và được ngân hàng khấu trừ vào tiền gốc còn nợ lại 139.107.748 đồng, sau đó chưa trả số tiền gốc và lãi nào. Tính đến ngày 14/3/2023, tổng số tiền ông Hoàng Ngọc T và bà Lê Thị Thu H còn nợ Ngân hàng là 158.255.490 đồng, trong đó nợ gốc là 139.107.748 đồng, lãi quá hạn là 19.147.742 đồng. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T, bà H trả số tiền gốc và lãi là 158.255.490 đồng và phần nợ lãi phát sinh đối với nợ còn lại theo mức thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H kể từ ngày 25/6/2021 đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp ông Hoàng Ngọc T, bà Lê Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị cho Ngân hàng yêu cầu thi hành án phat mãi tài sản đã thế chấp cho ngân hàng H Bank. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T, bà H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
