Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/7/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng.

Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hồng

2/ Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 15/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 305/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/7/2024. Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Á, sinh năm 1990;
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995;

Đều Cư trú tại Thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội;

Có mặt: Chị Á, anh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2024, các lời khai bổ sung, chị Dương Thị Á - nguyên đơn trình bày:

- Về tình cảm: Chị với anh Đ kết hôn ngày 30/11/2015 và có đăng ký tại UBND xã T. Sau khi cưới vợ chồng chị làm ăn ở cùng với gia đình nhà chồng tại xã T, huyện S, Hà Nội từ đó cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh Đ thường xuyên đánh đập vợ con dù đã được chính quyền địa phương can ngăn, hoà giải nhưng anh Đ vẫn tái diễn. Vợ chồng bắt đầu ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm không còn chị xin ly hôn anh Đ.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm nghề tự do thu nhập 15.000.000đ/tháng

- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn Đ là bị đơn trình bày:

- Về tình cảm: Anh với chị Á kết hôn ngày 30/11/2015 và có đăng ký tại UBND Xã T, huyện S. Sau khi cưới chị Á về chung sống với gia đình anh tại xã T, huyện S, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đầu năm 2024, vợ chồng mâu thuẫn nên chị Á bỏ đi và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay anh xác định tình cảm không còn anh đồng ý ly hôn chị Á.

- Về con chung: Vợ chồng anh sinh được 02 người con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng 01 con chung và được nuôi dưỡng cháu nào cũng được và không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản, nợ chung: Không có tài sản chung.

Tại phiên tòa:

  • * Chị Á vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn; Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm đồng ý ly hôn; Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi 02 con chung; Về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án:

  • + Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị Á và anh Nguyễn Văn Đ.
  • + Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018,. Ly hôn giao cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, anh Đ nuôi dưỡng cháu B và hai bên không phải cáp dưỡng nuôi con cho nhau.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • + Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Á chịu cả án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật:

Chị Á kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ ngày 30/11/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã T, S, Hà Nội. Anh Đ hiện cư trú tại thôn S, xã T, S, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng:

Chị Dương Thị Á và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T là hôn nhân hợp pháp. Nay chị Á xin ly hôn, anh Đ đồng ý ly hôn.

Căn cứ tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, gia đình thể hiện: Anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay anh Đ, chị Á thuận tình ly hôn. Xét thấy, việc chị Á và anh Đ thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện không bị ai gò ép hay ép buộc nên việc thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Chị Á, anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Ly hôn, chị Á có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung. Anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của chị Á, anh Đ là hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận thấy Anh chị hiện đang làm tự do và có thời gian chăm sóc con cái như nhau. Cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ, Chị Á hiện nay đang thuê trọ nên việc chị yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung là không có căn cứ. Do đó để đảm bảo sự ổn định của trẻ em, giao cho chị Á, anh Đ mỗi người chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết

[3] Về tài sản chung, nợ chung:

Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm:

300.000đ. Do các bên thuận tình ly hôn nên phải chịu ½=150.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Á chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 55, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).

Xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị Á và anh Nguyễn Văn Đ. Chị Dương Thị Á được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Dương Ngọc L, sinh ngày 20/6/2016 và cháu Nguyễn Dương Gia B, sinh ngày 12/12/2018. Giao cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, anh Đ nuôi dưỡng cháu B. Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Đ, chị Á có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Dương Thị Á phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số 0022569 ngày 19/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Hoàn trả chị Á 150.000₫.
  5. Án xử công khai sơ thẩm. Chị Á, anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS Sóc Sơn;
  • - THA Sóc Sơn;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - UBND Xã Tân Minh ;
  • - Lưu hồ sơ;

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger