Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 15/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Vừng.

Bà Nguyễn Thị Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường - Thẩm tra viên TAND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 15/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 17/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST- HS ngày 03/7/2024 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với bị cáo:

Dương Văn D, Sinh năm: 1991 (Tên gọi khác: Không).

Nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam ; Quốc tịch : Việt Nam. Con ông: Dương Văn N và con bà: Trần Thị H; Gia đình bị cáo có ba anh chị em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Có vợ: Bùi Thị L (Đã ly hôn năm 2021). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Người tham gia tố tụng khác: Ông Đỗ Quang T - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 10 phút ngày 21/3/2024 tại đường TL281 đoạn thuộc địa phận thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã A bắt quả tang Dương Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy. Ngay sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện L theo thẩm quyền.

- Vật chứng thu giữ: Tổ công tác đã thu giữ trên mặt đường TL281 01 (một) túi nilong màu trắng, bên trong có 02 (hai) viên nén màu hồng và chất bột màu trắng. D khai nhận đó là túi ma túy H1 và ma tuý Methamphetamine của D vừa mua được với mục đích mang về để sử dụng cho bản thân, khi thấy lực lượng Công an kiểm tra, D đã lấy túi ma tuý trên từ túi da màu đen đeo trước ngực vứt xuống dưới mặt đường.

Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của D:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng bạc, Biển kiểm soát: 99K1-078.97, số khung: 52E5303463, số máy: 5236CY019061 đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số 0336.126.543.
  • - 01 túi da màu đen, có dây đeo đã qua sử dụng.

Tổ công tác Công an huyện L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật;

Tại bản kết luận giám định số: 797/KL- KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“- 02 viên nén màu hồng gửi giám định có khối lượng là 0,1967 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.

- Chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,5917 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine (H)”.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 32/CT-VKSTS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lương Tài để xét xử bị cáo Dương Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Dương Văn D khai nhận: Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2015 đến nay. Khoảng 11 giờ ngày 21/3/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX, BKS 99K1-078.97 đi từ nhà tại

thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đến thôn Đ, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực nghĩa trang T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, cao khoảng 1m67, da ngăm đen, có biểu hiện giống người nghiện chất ma túy nên đã đi đến gần hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy Heroine và ma tuý Methamphetamine thì người đàn ông đồng ý. Bị cáo đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng, người này cầm tiền và đưa lại cho bị cáo 01 túi nilong màu trắng, bên trong có 02 (hai) viên nén màu hồng và chất bột màu trắng. Bị cáo biết đây là túi ma tuý nên cầm và cất túi ma tuý vừa mua được vào túi da màu đen đeo trước ngực sau đó điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu Đ thuộc thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để đón bạn là anh Nguyễn Văn N1 cùng về nhà bị cáo chơi. Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị cáo chở anh N1 đi trên đường T thuộc địa phận thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh thì bị cáo phát hiện lực lượng công an yêu cầu bị cáo dừng xe để kiểm tra nên khi dừng xe bị cáo lấy túi ma tuý cất trong túi da màu đen đeo trước ngực ném xuống mặt đường nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên. Bị cáo xác nhận đó là ma tuý mà bị cáo mua mục đích để sử dụng cho một mình bản thân bị cáo. Bị cáo nhận thấy hành vi như vậy là vi phạm pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn D từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định và 01 túi da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng;

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện VKS, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 14 giờ 10 phút ngày 21/3/2024 tại đường TL281 đoạn thuộc địa phận thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã A bắt quả tang Dương Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1967 gam ma túy Methamphetamine và 0,5917 gam ma tuý Heroine trong túi da màu đen đeo trước ngực với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Thu giữ vật chứng là số ma túy bị cáo đã tàng trữ. Như vậy, hành vi của bị cáo Dương Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4]Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; mặt khác bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nên bị cáo được hưởng

tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh đen đã qua sử dụng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D tại nghĩa trang T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng có đặc điểm như D mô tả. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý.

Đối với anh Nguyễn Văn N1 là người đã đi cùng D khi bị tổ công tác bắt quả tang: Quá trình điều tra xác định anh N1 không biết việc D mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý đối với anh N1 là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c, i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Văn D 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/3/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng và 01 phong bì thư đựng mẫu vật sau giám định, đã được phòng K Công an tỉnh B niêm phong (Mặt trước phong bì có chữ: “Cơ quan CSĐT- CATP Lương Tài. Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Dương Văn D, sinh năm 1991.……”.

Trả lại bị cáo D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài ngày 21/6/2024);

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND, Viện KSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Lương Tài;
  • - Công an huyện Lương Tài;
  • - Chi cục THADS huyện Lương Tài;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger