Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len

Bà Nguyễn Thị Dung

Ông Thiệu Minh Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1991 tại Thái Bình

Nơi cư trú: Số nhà B, tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, và bà Nguyễn Thị T, bị cáo chưa có vợ nhưng chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị N.

Tiền án:

  • Bản án số 125/2013/HS-ST ngày 29/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn D1 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự 200.000 đồng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 3.500.000 đồng, đã thi hành xong ngày 15/9/2016;
  • Bản án số 70/2013/HS-ST ngày 12/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với bản án số 125/2013/HS-ST ngày 29/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng buộc Nguyễn Văn D chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2013. D chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2015, án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 350.000 đồng, bồi thường dân sự 6.500.000 đồng. Đã thi hành xong án phí ngày 17/9/2015. Đối với khoản bồi thường dân sự, người được thi hành án không có đơn yêu cầu, D chưa nộp khoản tiền này;
  • Bản án số 10/2017/HS-ST ngày 27/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt D 08 năm 06 tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023; nộp xong án phí và tiền tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ngày 25/4/2017.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 17/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D:

  • Ông Nguyễn Văn H1- Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
  • Địa chỉ: Văn phòng L1 – Số B T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  • Ông Hà Trọng Đ - Luật sư Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
  • Bà Nguyễn Thị M - Luật sư Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

Đều có địa chỉ: Công ty L2 và Cộng sự - Tầng B Tòa nhà B - B6, ngõ E, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

*Người chứng kiến:

  1. Anh Phạm Công T1, sinh năm 1981, nơi cư trú: Tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);
  2. Chị Vũ Thị L, sinh năm 1998, nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);
  3. Ông Vũ Khắc T2, sinh năm 1954, nơi cư trú: Số nhà B, tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/12/2023, Nguyễn Văn D đi xe khách từ Thái Bình vào nhà em gái ở thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh chơi. Đến khoảng 15 giờ ngày 14/12/2023, D ra Quốc lộ A thuộc địa phận xã H, tỉnh Hà Tĩnh bắt xe ô tô khách tuyến Hà Tĩnh - Quảng Ninh để đi về Thái Bình. Trong lúc đứng đợi xe, D có nhận vận chuyển 01 túi ma túy giúp 01 người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ về khu vực ngã tư G thành phố T với tiền vận chuyển là 20.000.000 đồng. Người phụ nữ này lấy số điện thoại của D và nói về tới ngã tư G thành phố T sẽ có người liên lạc để lấy ma túy và trả cho D 20.000.000 đồng. Đến 21 giờ cùng ngày, D về tới ngã tư G thành phố Thái Bình và đi bộ về phía cây xăng S đợi người liên hệ lấy ma túy. Tại đây D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang. Kiểm tra người, hành lý của D phát hiện trong ba lô có một bọc hình vuông, kích thước khoảng 15cmx15cmx6cm được bọc bên ngoài bằng băng dính màu vàng, bên trong có nhiều lớp nilon, trong cùng chứa chất dạng tinh thể màu trắng trong suốt, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 872,0945 gam. T3 lại túi quần bên trái phía trước D đang mặc 01 điện thoại Iphone vỏ màu tím, đã qua sử dụng.

Cùng ngày, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn D tại số nhà B, tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, thu giữ trong hộp đựng kính mắt, để trong tủ quần áo, trong phòng ngủ của D 01 túi nilon trong suốt có mép cài và 01 túi nilon một mặt màu xanh in chữ Nhà thuốc L, bên trong 2 túi đều chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,0091 gam, 01 bình sử dụng ma túy làm bằng chai nhựa có nắp màu vàng, gắn 01 nỏ bằng thủy tinh. D khai bắt đầu sử dụng ma túy từ 3 tháng trước. Cách ngày bị bắt 20 ngày, D đi sang huyện V, thành phố Hải Phòng mua 05 túi ma túy đá của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng để sử dụng. D đã sử dụng hết 03 túi, còn 02 túi chưa sử dụng.

Bản Kết luận giám định số 1788/KLGĐ - KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn D trong hộp niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 872,0945 gam (T4 trăm bảy hai phẩy không nghìn chín trăm bốn mươi lăm gam). Mẫu vật quản lý khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn D gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 2,0091 gam (Hai phẩy không nghìn không trăm chín mươi mốt gam).

Cáo trạng số 20/CT-VKSTB, ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ các hành vi bị cáo đã thực hiện như cáo trạng đã mô tả. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn D như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xửtuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 50Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; Điều 50Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 06 năm tù đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chấp hành hình phạt của cả hai tội là tù chung thân. Thời gian bị cáo chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu toàn bộ số ma tuý được niêm phong trong 01 hộp và 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định, đều ghi số 1788/KL- KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T; 01 bình sử dụng ma tuý đá tự chế. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu tím đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, những người bào chữa cho bị cáo tranh luận: nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, mẹ bỏ đi từ khi bị cáo còn bé, bị cáo ở với bà nội và phải nghỉ học từ sớm để đi làm thêm kiếm sống. Do văn hoá thấp nên không tìm được việc làm có thu nhập ổn định, vì áp lực kinh tế dẫn đến phạm tội. Trong vụ án này bản thân bị cáo không chủ động tìm đến việc vận chuyển ma tuý mà do nhất thời khó khăn khi bản thân bị cáo đang là lao động chính, vợ không có việc làm lại mới sinh con, bố bị cáo ốm đau thường xuyên nên kinh tế thiếu thốn do đó bị cáo đã nhận lời vận chuyển ma tuý để kiếm lời. Mặt khác, gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo. Đối với mức hình phạtmà Viện kiểm sát đề nghị với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là quá nghiêm khắc, vì lượng ma tuý bị cáo tàng trữ thoả mãn định khung quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng vì bị cáo có tiền án, được xác định là tái phạm nguy hiểm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc quyết định hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt là đúng với tính chất của hành vi mà bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật, khẳng định các tình tiết người bào chữa cho bị cáo đưa ra không thuộc các trường hợp được xác định là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi gia đình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và còn được chứng minh bằng các tài liệu như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 30,31); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (Bút lục 32,33,38); Biên bản khám xét chỗ ở (bút lục 36,37); Bản kết luận giám định số 1788/KL - KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ, ngày 14/12/2023, tại cây xăng S gần ngã tư G, thành phố T, bị cáo Nguyễn Văn D đã vận chuyển trái phép 872,0945 gam ma tuý loại Methamphetamine và có hành vi tàng trữ trái phép tại số nhà B, tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình 2,0091 gam ma túy loại Methamphetamine. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được tính chất nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vì hám lời nên đã nhận vận chuyển thuê ma tuý cho người khác lấy số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo còn cố ý tàng trữ ma tuý tại nơi ở của mình để thoả mãn nhu cầu không chính đáng của bản thân. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tội phạm ma tuý trong xã hội, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
    • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
    • Hêrôin, côcain, M1, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
    • Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
    • Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
    • Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
    • Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
    • Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
    • Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
    • Tái phạm nguy hiểm

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

  1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
    • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
    • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
    • Hêrôin, côcain, M1, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
    • Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
    • Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
    • Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
    • Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
    • Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
    • Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
  2. ...
  3. ...
  4. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm. Tù chung thân hoặc tử hình:
    • Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

[3] Bị cáo Nguyễn Văn D đã 03 lần bị kết án, chưa được xoá án tích nay lại phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sựđối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuýquy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý. Do D tái phạm nguy hiểm, khối lượng ma tuý bị cáo D vận chuyển lớn hơn 100 gam nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm o khoản 2 Điều 249 và tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo điểm b khoảng 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: bị cáo đã nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội khi chưa được xoá án tích, thể hiện khả năng cải tạo của bị cáo không cao, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, được hưởng tình tiết giảm nhẹ do thành khẩn khai báoquy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Do bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần quyết định hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi do bị cáo thực hiện như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà.Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ do thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh gia đình thuộc diện khó khăn, là gia đình chính sách đang thờ cúng liệt sĩ, bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng đã có một con mới sinh dưới 12 tháng, tuy không xác định là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cũng là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Từ những phân tích trên, thấy bị cáo vẫn còn có khả năng cải tạo nên không cần thiết phải loại bỏ bị cáo vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội mà cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội không thời hạn để giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng là để phòng ngừa chung.

[5] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự đều quy định về hình phạt bổ sung: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”. Đối với tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, bị cáo phạm tội vì động cơ vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân trong khi bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý đựng trong 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 hộp niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định, đều ghi số 1788/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 bình sử dụng ma túy đá tự chế, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại Iphone vỏ màu tím đã đã qua sử dụng, bị cáo Nguyễn Văn D không dùng để liên lạc vận chuyển, mua bán ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Đối với người phụ nữ trả tiền công 20.000.000 đồng để thuê D vận chuyển ma túy từ thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh về ngã tư G, xã Đ, thành phố T và người đàn ông ở huyện V, thành phố Hải Phòng bán 05 gói ma túy cho D để sử dụng cho bản thân, bị cáo D không biết họ, tên, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 50Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

    Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; Điều 50Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chấp hành hình phạt của cả hai tội là tù chung thân. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 14/12/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo15 .000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý được đựng trong 01 phong bì niêm phong và 01 hộp niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định, đều ghi số 1788/KL- KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T; 01 bình sử dụng ma tuý đá tự chế. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu tím đã qua sử dụng.

    (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án đã được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 25/3/2024).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn D2 quyền kháng cáo đối bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15 tháng 5 năm 2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Thẩm phán

Chủ toạ phiên toà

Vũ Duy Luân

Nguyễn Thị Thu Hiền

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND cấp cao tại HN
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dũng TTTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger