trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/5/2024

V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiền, ông Nguyễn Đắc Sửu

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28/02/2024, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXX-ST, ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị; Đặng Thị L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
  2. Bị đơn: Anh; Nguyễn Văn M, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông; Võ Quang T, sinh năm 1962. Địa chỉ: Xóm D, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
    2. Ông; Đặng Đình C, sinh năm 1958. Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
    3. Ngân hàng C2. Địa chỉ: Số A, Phố L, phường H, Quận H, thành phố Hà Nội. Có ông; Dương Lê L1, sinh năm 1980, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện C2, tỉnh Nghệ An. Là người đại diện theo uỷ quyền. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, Bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, chị Đặng Thị L trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Lê kết h với anh Nguyễn Văn M vào ngày 30/3/2010, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung với ông bà nội ở xóm C, xã H được khoảng 02 tháng thì ra ở riêng tại phần đất rừng của ông bà N ở khu vực Khe Con L, thuộc xã H, từ đó cho đến nay.

Tình cảm vợ chồng sinh sống tình cảm bình thường, không có gì mâu thuẫn lớn; đến tháng 02/2019 anh Nguyễn Văn M phạm tội và bị Toà án huyện T kết án 05 năm tù về tội cố ý gây thương tích, đến tháng 11/2023 anh Nguyễn Văn M hết hạn và ra tù.

Cuối năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống; tuy trong thời gian này anh đang chấp hành án, nhưng mỗi khi vào thăm anh M ở trong Trại 6, thì anh M cứ chưởi bới, xỉ nhục chị.

Sau khi anh M ra trại về nhà thì hai người sống ly thân luôn từ tháng 11/2023 cho đến nay, anh M sống chung cùng ông bà nội ở xóm C, xã H, còn chị thì về nhà ông bà ngoại sinh sống ở xóm F xã H.

Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên xin được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

- Về con cái: Vợ chồng có 02 con chung với nhau tên là Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/6/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 31/5/2014. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Tú A, còn cháu Gia B để cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ:

Tài sản chung vợ chồng gồm có: Số tiền mặt bán các cây Keo Tràm anh Nguyễn Văn M đã bán là: 110.000.000 đồng ( 01 vạt cây Keo Tràm này khoảng 6,5 năm tuổi, do vợ chồng trồng trên thửa đất số 533, tờ bản đồ số 3, xã H, với diện tích khoảng 55.195 m², thửa đất này là của bà nội tên là bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1949, ở xóm C, xã H ) anh M đang giữ; số tiền 110.000.000 đồng có được là do anh M đã bán cây Keo Tràm cho anh Vương Viết H, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. 01 chiếc xe máy BLADE biển kiểm soát 37B2 – 803.14 đăng ký đứng tên chị Đặng Thị L, trị giá: 7.000.000 đồng.

Về nợ: Nợ ông Võ Quang T, số tiền 20.000.000 đồng, vay tháng 10/2019, khi đó vay của ông T để đền bù cho người bị hại; nợ ông Đặng Đình C, số tiền tiền 90.000.000 đồng ( tháng 8/2019 vay ông C 60.000.000 đồng để thuê Luật sư bảo vệ cho anh M trước Toà án; năm 2021 vay ông C 30.000.000 đồng để trả nợ cho anh M vay người khác trước đó ). Nợ Ngân hàng C2 115.000.000 đồng ( số nợ này vay tháng 10/2023).

Ly hôn về các khoản nợ tôi đồng ý tự nhận và trả nợ cho những khoản nợ này, vì tôi là người đứng vay khi anh M đang đi tù, nên tôi chịu trách nhiệm trả các khoản nợ cho ông C và nợ ngân hàng; còn nợ ông T đề nghị chia đôi cho hai người cùng chịu trách nhiệm trả.

Tôi đề nghị Toà án chia đôi số tiền đã bán cây Keo Tràm là 110.000.000 đồng và chiếc xe máy cho 2 vợ chồng.

Ngoài ra chị L không có yêu cầu gì thêm.

Bị đơn có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Đặng Thị L vào ngày 30/3/2010, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung với ông bà nội ở xóm C, xã H được khoảng 02 tháng thì ra ở riêng tại phần đất rừng của ông bà N ở khu vực Khe Con L, thuộc xã H, từ đó cho đến nay.

Tình cảm vợ chồng sinh sống tình cảm bình thường, không có gì mâu thuẫn lớn; đến tháng 02/2019 anh phạm tội và bị Toà án huyện T kết án 05 năm tù về tội cố ý gây thương tích, đến tháng 11/2023 anh M hết hạn và ra tù.

Trong thời gian anh đi tù, thì mỗi khi lần vào thăm anh thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Sau khi anh M ra trại về nhà thì chị L cũng tự ý sống ly thân luôn từ tháng 11/2023 cho đến nay, anh M sống chung cùng ông bà nội ở xóm C, xã H, còn chị thì về nhà ông bà ngoại sinh sống ở xóm F xã H.

Nay chị L làm đơn xin ly hôn, thì anh cũng sẵn sàng bỏ qua để vợ chồng trở về đoàn tụ, anh cũng không muốn vợ chồng bỏ nhau; còn nếu chị L nhất quyết ly hôn, thì anh cũng nhất trí ly hôn để giải thoát cho chị L.

- Về con cái: Vợ chồng có 02 con chung với nhau tên là Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/6/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 31/5/2014. Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con; còn nếu không thì đồng ý với ý kiến chị Lê đ là anh nuôi cháu Gia B, còn chị Lê n cháu Tú A.

- Về tài sản chung và nợ: Tài sản chung vợ chồng không có gì, có một vạt cây Keo Tràm trước đây vợ chồng trồng trên đất của ông bà nội, vừa rồi anh có bán cho anh Vương Viết H được số tiền 110.000.000 đồng, số tiền này anh dùng vào việc sinh sống nuôi dạy con cái trong gia đình và 01 chiếc xe máy BLADE biển kiểm soát 37B2 – 803.14 trị giá: 7.000.000 đồng.

Về nợ: Vợ chồng chỉ có nợ ông Võ Quang T, số tiền 20.000.000 đồng, vay tháng 10/2019, khi đó vay của ông T để đền bù cho người bị hại, nên đề nghị chia đôi số nợ này. Còn nợ ông Đặng Đình C, số tiền tiền 90.000.000 đồng; nợ Ngân hàng C2 115.000.000 đồng là do chị L vay riêng khi anh đang đi tù và mới vay trước anh ra tù khoảng 02 tháng, nên chị Lê t chịu trách nhiệm trả.

Ly hôn anh đồng ý đưa cho chị L 40.000.000 đồng; còn anh được hưởng 70.000.000 đồng và chiếc xe máy trị giá 7.000.000 đồng. Còn nợ ông T chia đôi cho 02 người.

Ngoài các ý kiến đã trình bày, anh không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Đặng Đình C trình bày như sau: Ông với vợ chồng anh M và chị L có mối quan hệ bố con; tức chị L là con gái của ông, M là con rể.

Tháng 8/2019 vợ chồng anh M có vay của ông số tiền 60.000.000 đồng, lúc đó M đang bị tạm giam, nên hai vợ chồng bàn bạc nhau nói chị Lê v của ông số tiền 60.000.000 đồng để thuê Luật sư cho M để bảo vệ trước Toà; sau đó xử Mậu xong được 3 tháng, thì do trước đó M đang còn nợ người khác, nên họ đến đòi, L không có tiền trả, nên nói cho vay thêm 30.000.000 đồng để trả nợ cho họ; cho nên tổng số tiền vợ chồng vay của ông là 90.000.000 đồng, số tiền này là của cá nhân ông cho vợ chồng vay; tuy khi vay không có giấy tờ gì cả, nhưng đó là thực tế. Nay vợ chồng ly hôn ông và chị Lê thỏa t1 tự giải quyết với nhau, mà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Võ Quang T trình bày như sau: Ông với vợ chồng anh M và chị L có mối quan hệ Dượng cháu, tức là vợ ông là em gái của bố chị L.

Tháng 10/2019, vợ chồng anh M có vay của ông số tiền 20.000.000 đồng, L trực tiếp đến vay, nhưng anh M vẫn biết, vì lúc đó M đang bị tạm giam, nhưng vẫn biết chị L vay để lấy tiền về đền bù thay cho anh M, vì M đánh nhau bị truy tố và xét xử.

Nay hai vợ chồng ly hôn ông đề nghị hai vợ chồng trả cho ông số nợ này; số tiền này là của cá nhân ông cho vợ chồng anh M và chị Lê v, đây là tiền riêng của ông cho vợ chồng vay; khi đó vợ chồng vay của nhiều người để đền bù cho anh M đã đánh người khác. Ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Đại diện Ngân hàng C2 trình bày như sau: Ngày 21/8/2023 chị Đặng Thị L có làm đơn xin vay của Ngân hàng C2 số tiền: 100.000.000 đồng, theo Chương trình vay của hộ nghèo 6600000726297131, ngày 08/9/2023 ngân hàng đã giải ngân cho chị L với thời hạn vay đến ngày 08/08/2028; ngoài ra ngày 08/5/2020 chị L còn vay của Ngân hàng C2 số tiền 15.000.000 đồng theo Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường 6600000717530330. Hiện nay chị Đặng Thị L đang còn nợ ngân hàng số tiền gốc là: 115.000.000 đồng; tiền lãi là: 131.000 đồng ( tính đến ngày 25/4/2024 ).

Nay vợ chồng làm thủ tục ly hôn, ngân hàng đề nghị hai vợ chồng trả cho ngân hàng số nợ tiền gốc và lãi là 115.131.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đặng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M; giao cháu Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/6/2010 cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 31/5/2014 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản và nợ: Giao cho anh M được quyền sở hữu số tiền 110.000.000 đồng tiền bán các cây Keo Tràm cho anh Vương Viết H ( anh đang giữ ) và 01 xe máy biển kiểm soát 37B2 – 803.14; anh M trích cho chị L số tiền 40.000.000 đồng. Giao cho anh M trả nợ cho ông T 10.000.000 đồng. Chị Lê T1 nợ cho ông T 10.000.000 đồng và chị Lê p chịu trách nhiệm trả khoản nợ cho ngân hàng chính sách xã hội, vì khoản nợ này chị mới vay và vay khi anh M đang ở trong trại giam; nợ ông C không xem xét; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải, song do anh Nguyễn Văn M vắng mặt, cho nên không thể thực hiện việc hòa giải và công khai chứng cứ. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, đại diện ngân hàng có đơn xin xử vắng mặt, cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Cuộc hôn nhân giữa chị Đặng Thị L và anh Nguyễn Văn M, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 30/3/2010 tại UBND xã H, huyện T. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện T. Vợ chồng sống tình cảm bình thường được khoảng một thời gian, đến tháng 11/2018 thì anh M phạm tội bị bắt tạm giam và sau đó bị xử phạt 05 năm tù; cũng trong thời gian anh M đi tù thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung, nên khi anh M ra tù vào tháng 11/2023 thì hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị Đặng Thị L vẫn nhất quyết xin ly hôn, còn anh Nguyễn Văn M vắng mặt và không có ý kiến, nhưng tại phiên toà hôm nay anh M vẫn nhất trí ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Đặng Thị L, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên chấp nhận cho chị Đặng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

[3] Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/6/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 31/5/2014. Tại phiên toà hai người đều thống nhất anh M nuôi cháu Gia B, còn chị Lê n cháu Tú A, hai người không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về chia tài sản chung: Số tiền 110.000.000 đồng bán Keo Tràm cho anh Vương Viết H, do bán các cây keo Tràm mà có, hiện nay anh M đang giữ và 01 xe máy biển kiểm soát 37B2 – 803.14 trị giá 7.000.000 đồng, là tài sản chung của vợ chồng; cho nên cần giao cho anh M được quyền sở hữu và giao trách nhiệm trích trả chênh lệch tài sản cho chị L số tiền 40.000.000 đồng và trả nợ ½ cho ông T, là hoàn toàn phù hợp.

[5] Về nợ:

Tại phiên toà ông C và chị Lê t2 nhất không còn yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xem xét.

Xét thấy số nợ của ông Võ Quang T là có căn cứ chấp nhận là nợ chung vợ chung, số nợ này phát sinh tại thời điểm anh M phạm tội cố ý gây thương tích, vợ chồng cũng thừa nhận, cho nên cần chia đôi cho 02 người cùng chịu trách nhiệm trả nợ cho ông T.

Đối với khoản nợ 115.000.000 đồng mà chị Đặng Thị Lê v1 vào tháng 11/2023 của Ngân hàng C2, khoản nợ này chị L vay khi đó vợ chồng đã mâu thuẫn, ngân hàng cho chị L vay nhằm mục đích mua trâu bò để chăn nuôi, nhưng thực tế chị không mua trâu bò, mà sử dụng vào việc khác, chị L vay trước 02 tháng khi anh M ra tù và vợ chồng cũng sống ly thân luôn, cho nên trách nhiệm trả nợ này cho ngân hàng thuộc về chị Đặng Thị L, như ý kiến của chị L là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị Đặng Thị L và anh Nguyễn Văn M thuộc diện hộ nghèo, nên miễn tiền án phí ly hôn và án phí tài sản cho hai người.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147; 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 59; 60; 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
  2. Về trách nhiệm nuôi con:
    1. Giao cho anh Nguyễn Văn M, trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 31/5/2014. Giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/6/2010. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
    2. Chị Đặng Thị L và anh Nguyễn Văn M, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    3. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về chia tài sản chung:
    1. Giao cho anh Nguyễn Văn M được quyền sở hữu số tiền đã bán cây keo Tràm cho anh Vương Viết H là: 110.000.000 đồng (Một trăm, mười triệu đồng) hiện anh M đang giữ và chiếc xe máy hiệu BLADE mang biển kiểm soát 37B2 – 803.14 ( đăng ký đứng tên chị Đặng Thị L, ngày 18/5/2018 ) trị giá: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
    2. Anh Nguyễn Văn M, có trách nhiệm trích trả chênh lệch tài sản cho chị Đặng Thị L, số tiền: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
  4. Về nợ:
    1. Giao cho anh Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả nợ cho ông Võ Quang T, số tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    2. Giao cho chị Đặng Thị L, có trách nhiệm trả nợ cho ông Võ Quang T số tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    3. Giao cho chị Đặng Thị L có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng C2 số tiền: 115.131.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu, một trăm mười lăm nghìn đồng).
  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền phải trả, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Kể từ ngày 16/5/2024, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về án phí:
    • Miễn tiền án phí ly hôn và án phí tài sản cho chị Đặng Thị Lê .
    • Miễn tiền án phí tài sản cho anh Nguyễn Văn M.
  2. Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt; có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKS huyện Thanh Chương
  • - Chi cục THA dân sự
  • - Các đương sự
  • - UBND xã Hạnh Lâm
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Nguyễn Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị L và anh M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger