Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-4-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Tâm;
  2. Ông Phạm Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên

tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 438/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Chiêu A, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ tạm trú: Tổ 2, khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Bá O, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Tổ 3, khu phố 1, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Chiêu A trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Chiêu A và ông Nguyễn Bá O tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 57, quyển số 01 ngày 02/7/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương chăm sóc nhau nhưng từ đầu năm 2023 giữa bà A và ông O thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến, không tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Bà A nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Bá O.
  • Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 12/10/2005 và Nguyễn Bá H, sinh ngày 22/7/2018. Khi ly hôn, bà Nguyễn Chiêu A đồng ý cho ông Nguyễn Bá O là người trực tiếp nuôi dưỡng con; bà Nguyễn Chiêu A không phải cấp dưỡng nuôi con; con chung Nguyễn Thị Phương T đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Bá O tham gia làm việc tại Tòa án vào ngày 21/12/2023 và trình bày: Thống nhất với trình bày của bà Nguyễn Chiêu A về thời gian kết hôn và quá trình chung sống; vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng là do làm ăn kinh kế bị thua lỗ; bà A yêu cầu ly hôn nhưng ông O không đồng ý vì vẫn còn thương yêu bà A; về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 12/10/2005 và Nguyễn Bá H, sinh ngày 22/7/2018; khi ly hôn ông O yêu cầu trực tiếp nuôi con tên H, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con; con chung Nguyễn Thị Phương T đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Đồng thời, ông O làm đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông O không đến Tòa án. Ông O vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, được cung cấp thông tin như sau: Ông Nguyễn Bá O có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Quá trình sinh sống tại địa phương Uỷ ban nhân dân phường Vĩnh Tân không nhận được đơn thư hay phản ánh của bà A cũng như ông O liên quan đến quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Do đó, địa phương không biết giữa vợ chồng ông bà có tên nêu trên mâu thuẫn như thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương phát biểu tại phiên tòa:

  • Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.
  • Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Chiêu A được ly hôn với ông Nguyễn Bá O; về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bá H, sinh ngày 22/7/2018 cho ông Nguyễn Bá O là người trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nguyễn Chiêu A không phải cấp dưỡng nuôi con; con chung Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 12/10/2005 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Chiêu A có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Bá O và yêu cầu giao quyền nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo kết quả xác minh và quá trình giải quyết vụ án xác định, ông Nguyễn Bá O, sinh năm 1984 có địa chỉ thường trú tại tổ 3, khu phố 1, phường Vĩnh Tân, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Chiêu A và ông Nguyễn Bá O chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 57, quyển số 01 ngày 02/7/2011. Theo quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Nguyễn Chiêu A xác định đời sống hôn nhân giữa bà và chồng là ông Nguyễn Bá O không còn hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 cho đến nay, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau, ông O sống không có trách nhiệm với vợ con, không tin tưởng nhau về kinh tế trong gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Cả hai đã đưa ra nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả nên bà A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Bá O.

Quá trình giải quyết vụ án, ông O chỉ tham gia làm việc vào ngày 22/12/2023 sau đó không đến Tòa án nữa, cho thấy ông O không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Về phía bà A, trong quá trình tố tụng xác định hoàn toàn không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với ông O, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân của bà A và ông O đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà A và ông O đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà A có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông O là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về việc nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 12/10/2005 và Nguyễn Bá H, sinh ngày 22/7/2018. Khi ly hôn, bà A đồng ý ông O là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, bà A không cấp dưỡng nuôi con.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Xét thấy, việc bà A yêu cầu ly hôn với ông O và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông O là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Bá Hoàng; ông O yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Bá Hoàng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và phù hợp với yêu cầu của ông O và bà A nên giao cháu Hoàng cho ông O trực tiếp nuôi dưỡng, bà A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Chiêu A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Chiêu A về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Bá O như sau:
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Chiêu A được ly hôn với ông Nguyễn Bá O.
    • Về việc nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bá H, sinh ngày 22/7/2018 cho ông Nguyễn Bá O được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Bà Nguyễn Chiêu A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; con chung tên Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 12/10/2005 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

    Bà Nguyễn Chiêu A và ông Nguyễn Bá O đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    • Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Chiêu A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001749 ngày 12-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Lài

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà Nguyễn Chiêu A và ông Nguyễn Bá O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger