Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 15-4-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thùy Linh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hoà

Bà Đào Thị Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/HSST ngày 18/01/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lữ Quốc T, tên gọi khác: không có, sinh ngày: 26/5/2006, tại tỉnh Lâm Đồng. Căn cước công dân số: [...]

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Nơi ở hiện nay: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Quốc N và bà Đặng Thị G. Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

Những người tham gia tố tụng:

Người bị hại: chị Phạm Thị Thùy M, sinh năm 1985 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Lê Thị H; sinh năm: 1984 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

2/ Chị Nguyễn Thị T1; sinh năm: 1985 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

3/ Chị Đặng Thị G, sinh năm 1978 ( có mặt)

Nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

4/ Chị Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1990 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện cho bị cáo: chị Đặng Thị G, sinh năm 1978 ( có mặt)

Nơi cư trú: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người bào chữa cho bị cáo: bà Trương Thị Bích H2- Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B ( có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lữ Quốc T: Khoảng 07 giờ ngày 04/5/2023, Lữ Quốc T đi bộ từ nhà mình sang nhà chị Phạm Thị Thùy M thuộc thôn I, xã Đ, huyện B để trộm cắp tài sản. Tại đây, T sử dụng 02 chiếc đũa làm bằng gỗ (T chuẩn bị từ trước) cậy cửa vào trong nhà, đi đến phòng ngủ của chị M lấy trộm: 01 sợi dây bằng vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “K*L*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen bỏ vào túi quần rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều khiển xe Sirius biển số: 93L1 – 150.78 của chị Đặng Thị G mang số trang sức bằng vàng vừa trộm được đến tiệm V1” thuộc thôn B, xã Đ bán cho chị Lê Thị H được 7.400.000 đồng; còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen T mang đến tiệm cầm đồ “Giáp Thắng” thuộc thôn B, xã Đ bán cho chị Nguyễn Thị T1 được 2.000.000 đồng. Khi phát hiện bị mất tài sản, chị M làm đơn trình báo Công an xã Đ. Nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên vào lúc 17 giờ cùng ngày, T đến Công an xã Đ đầu thú, khai nhận toàn bộ sự việc phạm tội của mình. Công an xã Đ lập biên bản chuyển giao cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện B để điều tra, xử lý theo thẩm quyền (BL: 01; 02; 51 - 65, 66 - 69; 70 - 75).

Tại Kết luận giám định số: 3991/KL-KTHS ngày 11/07/2023 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C (BL: 19), kết luận:

01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” dạng mắt xích và ống, khối lượng: 4,06 gam (ký hiệu M1) gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (A), B (A), Đ (Cu). Hàm lượng Vàng: 59,75%; hàm lượng Bạc: 20,76%; hàm lượng Đồng:19,40%.

01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hình cây thánh giá, khối lượng: 1,84 gam (ký hiệu M2) gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (A), B (A), Đ (Cu). Hàm lượng Vàng: 60,32%; hàm lượng Bạc: 19,71%; hàm lượng Đồng: 19,90%.

01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có ký hiệu “KL*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng, khối lượng (cả đá): 3,49 gam (ký hiệu M3) gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (A), B (A), Đ (Cu). Hàm lượng Vàng: 60,41%; hàm lượng Bạc: 19,20%; hàm lượng Đồng: 20,30%.

Tại công văn số: 062023/DJLHCM-CV ngày 04/10/2023 của Trung tâm giám định VBĐQ DOJILAB tại phố H (BL: 20), xác định: 09 hạt đá màu trắng đính trên 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có ký hiệu “KL*610EO” là đá tổng hợp Cubic Zirconia, không có giá trị.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 69/KL-HĐĐGTS ngày 25/09/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B (BL: 23 - 24), kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen có giá trị: 2.200.000 đồng; 01 sợi dây trang sức vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống có giá trị: 3.789.345 đồng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá có giá trị: 1.718.500 đồng; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “KL*610EO” có giá trị: 3.258.500 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình đã bồi thường khắc phục hậu quả; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về vật chứng vụ án Cơ quan CSĐT – Công an huyện B đã xử lý: 01 xe mô tô biển số 51F9-8967 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp; 01 đôi đũa dùng để cậy cửa nhà chị M, bị cáo T đã làm rơi không rõ vị trí cụ thể nên không thu hồi được; Trả lại 01 sợi dây bằng vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “K*L*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen cho chị Phạm Thị Thùy M là chủ sở hữu hợp pháp (BL: 44).

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị Thùy M nhận bồi thường 10.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 17/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lữ Quốc T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lữ Quốc T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Quốc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hiện nay bị cáo đang là học sinh, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ở độ tuổi vị thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, để bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập và rèn luyện bản thân.

Bị cáo Lữ Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lữ Quốc T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lữ Quốc T: Qua lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định được ngày 04/5/2023 Lữ Quốc T lợi dụng chị Phạm Thị Thùy M không có nhà, T đã cậy cửa vào trong nhà trộm được 01 sợi dây bằng vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “K*L*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐG ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, xác định 01 sợi dây trang sức vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống thời điểm xảy ra tội phạm giá trị: 3.789.345 đồng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh thời điểm xảy ra tội phạm giá trị: 1.718.500 đồng; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “KL*610EO” thời điểm xảy ra tội phạm giá trị: 3.258.500 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen thời điểm xảy ra tội phạm: 2.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 10.966.345đ. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến tài sản của người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên cần xử bị cáo với mức án thật tương xứng để răn đe giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Lữ Quốc T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả xảy ra; ngoài ra, bị cáo ra đầu thú tại cơ quan có thẩm quyền, bị cáo là học sinh, thực hiện hành vi phạm tội ở độ tuổi vị thành niên mới 16 tuổi 11 tháng 08 ngày, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và các chế định tuổi vị thành niên được quy định tại các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hiện nay đang là học sinh nên để bị cáo có cơ hội được tiếp tục đi học, phát triển bản thân, tu dưỡng, rèn luyện dưới sự giám sát của gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương là đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Lữ Quốc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra.

[5] Đối với vật chứng vụ án: 01 sợi dây bằng vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “K*L*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Phạm Thị Thùy M. Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đặng Thị G 01 xe hon đa biển số 51F9-8967. Về đôi đũa bị cáo T sử dụng để cậy cửa nhà, không truy tìm được nên không đặt ra để xử lý.

Bị cáo Lữ Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Đối với chị Lê Thị H đã mua số vàng và chị Nguyễn Thị T1 mua 01 điện thoại di động do T trộm cắp, nhưng chị H và chị T1 không biết tài sản do trộm cắp mà có; không có tài liệu, chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý, Viện kiểm sát không đề cập nên HĐXX không xem xét.

Xe hon đa của chị Đặng Thị G biển số 51F9-8967 bị cáo sử dụng làm phương tiện đi tiêu thụ tài sản trộm cắp, chị G không biết; không có tài liệu, chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý, Viện kiểm sát không đề cập nên HĐXX không xem xét.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phát biểu về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hành vi, hậu quả phạm tội của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Lữ Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm i, b, s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 38, Điều 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo cáo L (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cáo Lữ Quốc T về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nới cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:

Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT – Công an huyện B trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp là chị Phạm Thị Thúy M1 01 sợi dây bằng vàng có ký hiệu “KM*NT, KM*610” hình mắt xích và ống; 01 mặt dây chuyền bằng vàng hình cây thánh giá; 01 nhẫn bằng vàng có ký hiệu “K*L*610EO”, phía trên mặt có đính hạt trang sức màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo loại V2029 màu đen. Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đặng Thị G 01 xe hon đa biển số 51F9-8967.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra.

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lữ Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở TP & Công An tỉnh BP;
  • - Công an huyện Bù Đăng;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Bị cáo, Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




LƯU THUỲ LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger