Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 14 - 8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Hữu Đoàn;

Ông Trần Công Đẳng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện U xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Hoàng T, sinh năm: 1991; tại xã K, huyện U, Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, Cà Mau; nghề nghiệp: ngư phủ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị R; bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam ngày 22/5/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt).

- Bị hại: Ông Thạch R1, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Cẩm H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 14/12/2023, tại nhà ông Thạch R1 thuộc ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau tổ chức uống rượu gồm có: Riêm, Phạm Văn Đ (con rể ông R1) và Phạm Hoàng T. Trong lúc nhậu, ông R1T xảy ra cự cãi nên ông R1 đuổi T về, Đ kè T ra lộ rồi đi vào nhà. Khi ra lộ T tiếp tục chửi ông R1 nên ông R1 đi ra trước sân nhà cự cãi với T. Lúc này, T đi vào nhà của em gái tên Phạm Yến O ngang nhà của ông R1 lấy 01 cây kéo (cán bầu màu xanh xám, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng) rồi chạy đến vị trí ông R1 đang đứng để đâm ông R1 nhưng ông R1 bỏ chạy. T đuổi theo ông R1, tay phải cầm kéo đâm 01 cái trúng vào ngực trái của ông R1 gây thương tích. Liền sau đó, ông R1 câu vật T xuống lề đường, trên tay phải T vẫn còn cầm cây kéo, T tiếp tục đâm 02 cái trúng vào mặt ngoài cánh tay trái và mặt sau cảnh tay trái của ông R1. Mọi người đến can ngăn thì T bỏ về nhà, còn ông R1 được đưa đến Trung tâm Y tế H1 điều trị. Sau khi xuất viện, ông R1 đến Công an xã K trình báo vụ việc, đồng thời có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Hoàng T.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 23/KLTTCT-TTPY, ngày 29/01/2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh C, đối với Thạch R1 kết luận: 01 vết sẹo vùng ngực trái khoảng liên sườn II, III, kích thước: 1,5cm x 0.4cm, tỷ lệ 01%, do vật nhọn hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết sẹo mặt ngoài 1/3 trên cảnh tay trái, kích thước: 1,3cm x 0,5cm, tỷ lệ 01%, do vật nhọn hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết sẹo mặt sau trong 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước: 02cm x 0.5cm, tỷ lệ 01%, do vật nhọn hoặc vật sắc nhọn gây ra. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Thạch R1 tại thời điểm giám định là 03%. Kết luận khác: Thương tích do vật nhọn hoặc vật sắc nhọn tác động trực tiếp lên bề mặt cơ thể tổn thương da, mô liên kết dưới da. Sau khi điều trị để lại thương tích như trên.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo, cán bầu, màu xanh xám, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng (là hung khí dùng để gây thương tích cho bị hại R1), 01 đôi dép quai kẹp màu trắng (của bị cáo T);

Về phần dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Thạch R1 yêu cầu T bồi thường số tiền 17.000.000 đồng.

- Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày: Bà thống nhất với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên về xử lý hình sự và hình phạt đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đã đồng ý bồi thường số tiền này theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo đã thực hiện trong thực tế. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông R1 theo yêu cầu của ông R1.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng Nghị quyết số 02/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ghi nhận tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng. Về tang vật: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan đến vụ án là 01 cây kéo và 01 đôi dép quay kẹp.

2

Lời nói sau cùng bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cho bị cáo, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2023, tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, Phạm Hoàng T có hành vi dùng cây kéo, cán bầu màu xanh xám, kéo bằng kim loại màu trắng đâm vào người ông Thạch R1 gây thương tích. Theo kết luận giám định, tổn hại sức khỏe của bị hại Thạch Riêm tổng cộng là 3%.

Bị cáo đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó hành vi dùng kéo, là hung khí nguy hiểm, đâm vào người bị hại gây thương tích với tỷ lệ 3% của bị cáo Phạm Hoàng T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, bị hại có yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý vì nhận thức được việc dùng kéo dâm vào cơ thể ông R1 sẽ gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của ông R1 nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nhằm thỏa mãn sự bực tức của cá nhân, do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật nhằm thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị hại ông Thạch R1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng.

Kể từ ngày ông R1 có đơn yêu cầu thi hành án, Phạm Hoàng T chậm thi hành số tiền nêu trên thì còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[5] Về vật chứng gồm: 01 cây kéo, cán bầu, màu xanh xám, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng (là hung khí dùng để gây thương tích cho bị hại R1); 01 đôi dép quai kẹp màu trắng đã sử dụng (của bị cáo T để lại hiện trường vụ án), xét thấy các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt, bồi thường là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại về bồi thường là có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm phải chịu là 17.000.000 đồng x 5% = 850.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Phạm Hoàng T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành tính kể từ ngày bắt bị cáo tạm giam 22/5/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho ông Thạch R1 số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng.

    Kể từ ngày ông R1 có đơn yêu cầu thi hành án, Phạm Hoàng T chậm thi hành số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật hình sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo (cán bầu, màu xanh xám, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng) và 01 đôi dép quai kẹp màu trắng, các vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện U quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ - VKS - HS ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U và Chi cục thi hành án dân sự huyện U.
  5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm 850.000 (Tám trăm năm mươi ngàn).

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện U, tỉnh Cà Mau;
  • - Công an huyện U, tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục THA DS H.U Minh, tỉnh Cà Mau;
  • - Cơ quan THA HS H.U Minh, tỉnh Cà Mau ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Việt Hằng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T đánh ông R gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger