TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/8/2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Gia Phượng và ông Hà Thanh Phong
Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Xiêm - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 20224 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1971
Bị đơn: Anh Bùi Mạnh N, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Khu E, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Chị T và anh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ vào ngày 23/7/1992. Trong suốt quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do anh N thường xuyên uống rượu, ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác, chơi bời, vũ phu đánh đập và hành hạ vợ con, mặc dù chị bị bệnh ung thư, anh N không quan tâm đến gia đình. Chị đã cố gắng khắc phục tình cảm vợ chồng vì gia đình xong không thành. Do không chịu được cuộc sống chung nên 2 vợ chồng đã ly thân. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị T đề nghị xử cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 04 con chung: Bùi Thu T1, sinh ngày 06/02/1992, Bùi Như Q, sinh ngày 28/10/1996, Bùi Ngọc M, sinh ngày 01/6/2004 và Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014. Khi ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi cháu B và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Các cháu T1, Q, M hiện nay đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Mạnh N trình bày:
Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ vào ngày 23/7/1992. Trong suốt quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc và ở khu 5 xã V, huyện L. Sau năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong quá trình chung sống từ lời ăn, tiếng nói. Vợ anh có lời nói chửi bới và xúc phạm anh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng và hai bên gia đình có hòa giải, khuyên bảo nhưng vợ chồng không khắc phục được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Nay chi Thao xin ly hôn anh không nhất trí vì con chung còn nhỏ, muốn được cả bố mẹ nuôi dưỡng.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 4 con chung là: Bùi Thu T1, sinh ngày 06/02/1992, Bùi Như Q, sinh ngày 28/10/1996, Bùi Ngọc M, sinh ngày 01/6/2004 và Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014. Các cháu T1, Q, M hiện nay đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết. Nếu chị T kiên quyết ly hôn thì anh xin được trực tiếp nuôi cháu B và tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị T và anh N thống nhất không yêu cầu giải quyết.
- Tại bản tự khai, cháu B đã trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu xin được ở với mẹ cháu vì bố cháu hay say rượu, về muộn và không quan tâm đến cháu.
- Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân với đại diện UBND, Tư pháp, trưởng khu E, xã V:
Vợ chồng anh N, chị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn phát sinh cả 2 phía do chị T chưa làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người con dâu trong gia đình, phía anh N có nhiều điều tiếng về quan hệ ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án. Tại phiên tòa thành phần Hội đồng xét xử đúng với quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Tòa án đã lập thủ tục cấp, tống đạt, thông báo đầy đủ văn bản tố tụng và đúng quy định pháp luật.
Đề xuất hướng xử lý giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh N. Về con chung: Các cháu T1, Q, M hiện nay đã trưởng thành nên các bên không yêu cầu giải quyết.
Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014 cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cần chấp nhận.
Đối với quan hệ về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị T và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí ly hôn, chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Minh T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị xin ly hôn với anh Bùi Mạnh N có địa chỉ xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ đối với anh N các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị T và anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 23/7/1992, chị Trần Thị Minh T và anh Bùi Mạnh N cưới, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được nhiều năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mặc dù 2 vợ chồng cũng như 2 bên gia đình hòa giải xong không khắc phục được mâu thuẫn. Nay anh không nhất trí ly hôn vì muốn tiếp tục chung sống để nuôi dạy con chung là không thực tâm vì anh đã xác định vợ chồng mâu thuẫn, mặc dù anh không phản đối phần trình bày của chị về việc ngoại tình, bạo lực gia đình của anh. Điều đó chứng tỏ việc chị T trình bày là đúng, từ đó xác định tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh N là phù hợp.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 04 con chung là Bùi Thu T1, sinh ngày 06/02/1992, Bùi Như Q, sinh ngày 28/10/1996, Bùi Ngọc M, sinh ngày 01/6/2004 và Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014. Khi ly hôn thì các cháu T1, Q, M hiện nay đã trưởng thành nên không đề nghị giải quyết. Đối với cháu B thì chị T và anh N cùng xin được trực tiếp nuôi và tự nguyện không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con chung. Thấy rằng điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con chung của chị T hơn anh N vì chị chứng minh được thu nhập tháng 7/2024 là khoảng 17.637.000 đồng, chị có thời gian chăm sóc con chung, có nơi ở ổn định, đây là yêu cầu chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của cháu B, phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Tòa án đã có Quyết định yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập nhưng đến ngày xét xử anh N không cung cấp. Do vậy không có căn cứ xem xét yêu cầu của anh N.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Các bên đương sự không đề nghị, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Minh T và anh Bùi Mạnh N được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1,2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh T được ly hôn anh Bùi Mạnh N.
- Về con chung: Xác nhận anh chị có 04 (bốn) con chung là Bùi Thu T1, sinh ngày 06/02/1992, Bùi Như Q, sinh ngày 28/10/1996, Bùi Ngọc M, sinh ngày 01/6/2004 và Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014. Hiện nay các cháu T1, Q, M đã trưởng thành, các cháu muốn ở với ai thì tùy các cháu. Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 21/6/2014 cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Các bên đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Minh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001678 ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Phú Thọ. Nay được chuyển thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Minh Thao ly hôn anh Bùi Mạnh Nhâm
