|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2023/HNGĐ - ST Ngày 14 - 8 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quốc Kiên
Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1987
Nơi thường trú: TDP Tân Vinh, phường Hải Bình, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987
Nơi thường trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
Tạm trú tại: S Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Anh H và chị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Bùi Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08/3/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả không thể hòa hợp được, nên đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng sống ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị H1.
Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung là Bùi Nguyễn Quốc B, sinh ngày 18/12/2020, khi vợ chồng sống ly thân cháu B ở với chị H1 cho đến nay. Sau khi ly hôn anh H đề nghị giao con chung cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H1: Chị H1 có địa chỉ thường trú tại TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, anh H cung cấp thông tin về nơi tạm trú của chị H1: Chị H1 hiện đang tạm trú tại SN 233/98/8/15 Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ban hành Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ.
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã tiến hành triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng cho chị H1 và gửi bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyến vắng mặt của chị Nguyễn Thị H1 cho Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn.
Tại bản tự khai ngày 13/7/2023 chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Chị và anh H kết hôn năm 2010, đến năm 2019 chị và anh H có mâu thuẫn với nhau, nên chị đồng ý ly hôn anh Bùi Văn H. Chị và anh H có 01 con chung là Bùi Nguyễn Quốc B, sinh ngày 18/12/2020, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và đồng ý anh H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Về tài sản chung: chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H1 trình bày do bận công việc và ở xa, nên chị đề nghị vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn H. Về hôn nhân giải quyết cho anh H được ly hôn chị H1; Về con chung: giao cháu Bùi Nguyễn Quốc B, sinh ngày 18/12/2020 cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng; Về tài sản chung: anh H và chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh H yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị H1, chị H1 có địa chỉ thường trú tại TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, chị H1 đề nghị giải quyết vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự; anh H và chị H1 đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị H1: Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh chị sống ly thân thời gian dài mỗi người mỗi nơi, vợ chồng không gần nhau nên tình cảm phai nhạt. Anh H và chị H1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị ly hôn.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị H1, theo biên bản xác minh ngày 20/7/2023, xác định: Trong cuộc sống vợ chồng giữa anh H và chị H1 không có hạnh phúc và kể từ năm 2020 anh H và chị H1 sống ly thân.
Căn cứ vào trình bày của các đương sự và kết quả xác minh tình trạng hôn nhân có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh H và chị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung là Bùi Nguyễn Quốc B, sinh ngày 18/12/2020, khi ly hôn anh H đề nghị giao con cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng; Chị H1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chấp nhận mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/ tháng. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh H giao cháu Bùi Nguyễn Quốc B cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi con chung thực hiện định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng, thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con thành niên là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu B.
[4] Về tài sản chung: Anh H và chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh H khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 116, 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn H:
- Về hôn nhân: Anh Bùi Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Nguyễn Quốc B, sinh ngày 18/12/2020 cho chị Nguyễn Thị H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Bùi Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, thực hiện định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con thành niên
Anh Bùi Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Bùi Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012534 ngày 24/5/2023 ( Anh H còn phải nộp 300.000 đồng án phí).
4. Quyền kháng cáo: Anh H và chị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 30/2023/HNGĐ - ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2023/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H ly hôn chị H
