|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ - ST
Ngày 04/6/2024
"V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Nam.
- Ông Lưu Xuân Giới.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị N.
Nơi cư trú: tổ A, khu Đ, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Vũ Văn V.
Nơi cư trú: khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và tại bản tự khai nguyên đơn bà Đặng Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: do có quan hệ tình cảm nên bà N và ông V tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1989, khi đó hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó ông bà về chung sống tại khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Bà N và ông V đã sống ly thân từ năm 2001 cho đến nay, khi ly thân mỗi người sống một nơi. Mâu thuẫn giữa bà N và ông V đã được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng không thành. Nay bà N nhận thấy tình cảm dành cho ông V không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông V.
- Về con chung: Bà N và ông V có hai con chung tên là Vũ Tuấn M, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990 và Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1992. Các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà N và ông V không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà N và ông V không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn ông Vũ Văn V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: do có quan hệ tình cảm nên ông V và bà N tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1989, khi đó hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó ông bà về chung sống tại khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông V và bà N đã sống ly thân từ năm 2001 cho đến nay, khi ly thân mỗi người sống một nơi. Mâu thuẫn giữa ông V và bà N đã được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng không thành. Nay ông V nhận thấy tình cảm dành cho bà N không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên ông đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà N.
- Về con chung: Ông V và bà N có hai con chung tên là Vũ Tuấn M, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990 và Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1992. Các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ông V và bà N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông V và bà N không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Khi xác minh về quan hệ hôn nhân của các đương sự, đại diện chính quyền địa phương nơi các đương sự cư trú cung cấp thông tin như sau:
Bà Đặng Thị N và ông Vũ Văn V tự nguyện về chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương vào khoảng năm 1989 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới, hai người về chung sống tại khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống bà N và ông V có hai con chung là Vũ Tuấn M, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990 và Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1992. Cháu Vũ Tuấn M và Vũ Thị Thanh H hiện nay đã thành niên. Về tài sản chung, nợ chung của hai người địa phương không nắm rõ. Qua rà soát sổ đăng ký kết hôn từ năm 1989 đến nay không có trường hợp đăng ký kết hôn của bà Đặng Thị N và ông Vũ Văn V.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, giải quyết: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị N và ông Vũ Văn V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị N thuộc những tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Vũ Văn V hiện đang cư trú tại phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị N và ông Vũ Văn V về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 tại khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù bà N và ông V có tổ chức lễ cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân giữa hai người không có giá trị pháp lý. Mặt khác, mâu thuẫn giữa bà N và ông V là có thật, ngày càng trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, tình cảm hai bên dành cho nhau không còn. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2001 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai. Do vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà N và ông V.
[3] Về con chung: quá trình chung sống, các đương sự có hai con chung là Vũ Tuấn M, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990 và Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1992. Các con chung đã thành niên nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Đặng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị N và ông Vũ Văn V.
2. Về án phí: Bà Đặng Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0003559 ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 30/2024/HNGĐ - ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Nh - Vũ Văn V
