|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14 - 6 - 2024
V/v ly hôn giữa chị Sợi và anh Nam
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Diêm Đăng Hoạt.
- Ông Giáp Hồng Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Lệ Toàn, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Nguyễn Thị S trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn N ngày 25/10/2021, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày đăng ký kết hôn vợ chồng vẫn ở riêng đến khoảng tháng 6/2022 khi chị sinh con thì vợ chồng mới về chung sống cùng nhau tại nơi chị thuê ở trọ, tổ dân phố H, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên, tình cảm vợ chồng từ sau khi đăng ký kết hôn theo chị đã không hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh ngay sau khi đăng ký kết hôn tháng 10/2021, nguyên nhân do vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn như bất đồng về quan điểm lối sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng hay xảy ra xô sát, cãi nhau, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân không có quan hệ tình cảm từ cuối năm 2021. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, chị giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh N được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/6/2022, hiện tại cháu Đ đang ở cùng chị và anh N. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh N nhận nuôi dưỡng con chung chị không nhất trí. Chị đủ điều kiện nuôi con ăn học, chị làm làm quản lý tại Công ty TNHH S1 lương trung bình là 36.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng chị không kê khai mà vợ chồng tự thoả thuận chia xong, vợ chồng không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Tại bản tự khai ngày 18/7/2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án anh Trần Văn N trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị S ngày 25/10/2021 trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày đăng ký kết hôn vợ chồng vẫn ở riêng đến khoảng tháng 6/2022 khi chị S sinh con thì vợ chồng mới về chung sống cùng nhau tại nơi chị S thuê ở trọ, tổ dân phố H, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên, tình cảm vợ chồng theo anh có hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng 01 năm sau ngày đăng ký kết hôn, nguyên nhân vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn như bất đồng về phong tục tập quán giữa anh và chị S, ngoài ra vợ chồng còn bất đồng về quan điểm lối sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng hay xảy ra xô sát, cãi nhau, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tại phiên toà anh xác nhận vợ chồng sống ly thân không có quan hệ tình cảm từ tháng 10/2021, naynh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, chị S xin ly hôn, anh nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/6/2022, hiện tại cháu Đ đang ở cùng anh và chị S, vợ chồng ly hôn chị S đề nghị được nuôi dưỡng con chung, anh không nhất trí, anh cũng đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị S đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh đủ điều kiện nuôi con ăn học, hiện anh làm quản lý tại Công ty TNHH S1 lương trung bình là hơn 40.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng anh không kê khai mà vợ chồng tự thoả thuận chia xong, vợ chồng không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Tại phiên toà chị Nguyễn Thị S vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Văn N được ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, tài sản và công nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Văn N trình bày nhất trí với ý kiến của chị S về quan hệ hôn nhân, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Nhất trí không đề nghị Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, không giải quyết về tài sản, công nợ vợ chồng. Anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chị S nhận nuôi con anh không nhất trí.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn chị Nguyễn Thị S và bị đơn anh Trần Văn N thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83 - Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N, thì anh N có địa chỉ thôn N, xã L, huyện T. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị S, bị đơn anh Trần Văn N và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N kết hôn ngày 25/10/2021 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang tuy nhiên hai bên chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng vẫn ở riêng cho đến tháng 6/2022 khi chị S sinh con thì vợ chồng mới về chung sống cùng nhau tại nơi chị S thuê ở trọ, tổ dân phố H, phường Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên, do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nay chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết về nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản, công nợ chung; Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình là đúng quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Mâu thuẫn vợ chồng: Tại phiên toà chị S và anh N đều xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng tháng 10/2021, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và mâu thuẫn do phong tục tập quán. Nay chị S và anh N đều xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, đều đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Căn cứ vào lời khai của chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy tình trạng hôn nhân của chị S và anh N đã xảy ra mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị S và anh N đều đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị S và anh N là phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N có một con chung là Trần Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/6/2022, chị S và anh N đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con và không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa Tòa chị S và anh N đều đề nghị được nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy con chung của chị S và anh Nam tính đến thời điểm xét xử chưa được 36 tháng tuổi, chị S và anh N đều đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Nhận thấy cháu Đ đến ngày xét xử mới được 02 tuổi 03 ngày, để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng, nhận thấy cần giao cho chị S được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/6/2022 là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị S và anh N đều không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N đều xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng không kê khai, không liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N cùng thống nhất thuận tình ly hôn quá trình hoà giải, nên các đương sự phải chịu 50% tiền án phí ly hôn sơ thẩm, chị S nhận chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn bao gồm cả tiền án phí mà anh N phải chịu, do vậy chị S phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 150.000 đồng là phù hợp với khoản 7 Điều 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 55; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử
[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị S và anh Trần Văn N.
[2] Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng Trần Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/6/2022, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Trần Văn N có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh N quyền thăm nom con.
[3] Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 150.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị S đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí; lệ phí Tòa án số: 0011749 ngày 5/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả chị Nguyễn Thị S số tièn 150.000 đồng.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị S xin ly hôn với anh Trần Văn N
