Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG CHÀ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:30/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Xôm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Khắc Thiện.
  2. Ông: Lò Trung Kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Chức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm Sát Viên.

Ngày 14/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân, huyện M, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lường Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1988, tại thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã L, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Lường Văn T1, con bà: Lò Thị K; Vợ : Điêu Thị T2; Bị cáo 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/02/2024 Công an huyện M phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang Lường Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tạm giữ đến ngày 09/03/2024 tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Điện Biên cho đến nay, có mặt.

*) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn Đ - Sinh năm 1986; Địa chỉ trú tại: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 29/02/2024 khi đang san đất thuê cho Lò Văn T3 thuộc bản Mường Tùng, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lường Văn T rủ Lò Văn Đ chở đi mua Heroine, nếu mua được thì về cùng nhau sử dụng, Đ đồng ý.

Đ điều khiển xe mô tô chở T đi đến khu vực bản T, xã H, huyện M thì dừng xe ngoài đường, còn T đi bộ vào khe suối thuộc bản T thì gặp và trao đổi mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng trắng với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine T cầm trong tay phải đi bộ quay lại chỗ Đ. Hồi 09 giờ 25 phút cùng ngày khi T đi bộ quay ra được khoảng 50 mét thuộc khu vực bản T, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên, thì bị tổ công tác Công an huyện M phối hợp với Công an xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên phát hiện, thu giữ trong tay phải của T có 01 gói Heroine có khối lượng 0,346 gam. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Văn T, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Vật chứng của vụ án: 0,346 gam Heroine gửi toàn bộ giám định, hoàn lại 0,29 gam sau giám định; 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Tại bản kết luận giám định số: 489/ KL-KTHS ngày 07/3/2024 của phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn T có khối lượng 0,346 gam chất bột màu trắng đục là chất ma tuý: Loại Heroine.

Tại cáo trạng số 23/CT-VKSMC ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố Lường Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên để xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố Lường Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 0,29 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sơ để điều tra làm rõ.

Đối với việc bị cáo khai rủ Lò Văn Đ chở đi mua H, nếu mua được H về cùng nhau sử dụng, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ khác chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn Đ.

Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T khai và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng, không oan sai.

Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 09 giờ 50 phút, ngày 29/02/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ hồi 11 giờ 05 phút, ngày 29/02/2024; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 16 giờ 45 phút, ngày 29/02/2024; Bản kết luận giám định số 489/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Hồi 09 giờ 25 phút, ngày 29/02/2024, tại khu vực bản T, xã H, huyện M, tinh Đ, tổ công tác Công an huyện M phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang Lường Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,346 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3]. Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,346 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Nhà nước ta nghiêm cấm, mua bán, tàng trữ..., trái phép các chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hành vi và hậu quả của mình đã gây ra. Với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.

Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyến, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đển 05 năm:

... c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng học hết lớp 8/12 thì bỏ học ở nhà phụ giúp bố mẹ làm nông nghiệp. Năm 2014 xây dựng gia đình với Lò Thị T4 và làm ăn sinh sống tại bản Ho Luông 3, xã L, thị xã M, tỉnh Điện Biên. Ngày 29/02/2024 Công an huyện M bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bố bị cáo là Lường Văn T1 có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến đây là các tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng: Như chúng ta đã biết ma túy là loại độc dược nó hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái phẩm chất đạo đức nếu ai sử dụng nó, làm khuynh gia bại sản gia đình ly tán, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo không những đã trực tiếp hủy hoại sức khỏe của bị cáo mà còn tiếp tay cho các đối tượng khác mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thì áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Xét về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh của Cơ quan điều tra thể hiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.

[7]. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh giấy màu vàng trắng; 01(một) phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) phong bì của phòng K2, Công an tỉnh Đ (bên trong bì có chứa 0,29 gam Heroine) là vật cấm tàng trữ, lưu hành và là vật không có giá trị sử dụng.

[8]. Nguồn gốc ma túy mà bị cáo bị thu giữ bị cáo khai nhờ một người đàn ông nhưng bị cáo không biết họ tên tuổi địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra xử lý theo quy định. Ngoài ra theo lời khai của bị cáo, nguồn gốc H bị thu giữ là Lò Văn Đ chở bị cáo đi mua về để cùng nhau sử dụng. Tuy nhiên qua đấu tranh Lò Văn Đ không thừa nhận, ngoài lời khai của Lường Văn T không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh hành vi của Lò Văn Đ nên không có căn cứ để xử lý đối với Đ.

[9]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.

- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/02/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng trắng; 01(một) phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) phong bì của phòng K2, Công an tỉnh Đ (bên trong bì có chứa 0,29 gam Heroine).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 15 phút, ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).

4. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần quyết định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mường Chà;
  • - Công an huyện Mường Chà;
  • - Phòng KTNV - THA TAND tỉnh;
  • - Phòng 07 Viện kiểm sát tỉnh ĐB;
  • - Phòng PC10 – CA tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Chi cục Thi hành án DS, huyện MC;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Bộ phận QLHSNV-CAHMC;
  • - UBND xã Lay Nưa thay thông báo;
  • - Bị cáo;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Quàng Văn Xôm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger