Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình, Ông Nguyễn Tuấn Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/ TLST – HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Vũ Như Q, sinh năm 1998;

Địa chỉ: Khu L, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: anh Hoàng Đăng K, sinh năm 1996

Địa chỉ: Khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Q và anh K đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Như Q trình bày: Chị và anh K kết hôn ngày 29/01/2018, đăng ký tại UBND xã Đ nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không hợp nhau. Anh K khai, không quan tâm đến gia đình, đến năm 2019, anh K phạm tội và phải đi chấp hành án hình phạt tù tại đội 14, phân trại số A, trại giam V, Cục C, Bộ C1. Địa chỉ: Xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị đã dọn về nhà mẹ đẻ tại xã C, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị ly hôn anh K.

Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018, hiện cháu ở cùng chị Q. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Hoàng Đăng K hiện đang chấp hành án tại đội 14, phân trại số A, trại giam V - Cục C - Bộ C1. Anh K có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt. Anh K trình bày: Anh và chị Vũ Như Q kết hôn ngày 29/01/2018, đăng ký tại UBND xã Đ nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn. Đầu năm 2019, anh phạm tội và phải đi chấp hành án hình phạt tù tại đội 14, phân trại số A, trại giam V - Cục C - Bộ C1. Chị Q đã về nhà mẹ đẻ tại xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn, chị Q xin ly hôn anh tại Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, quan điểm của anh là nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Q có 01 con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018, hiện cháu ở cùng chị Q. Ly hôn, chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A. Không yêu cầu anh cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Quan điểm của anh đồng ý để chị Q nuôi con vì hiện tại anh đang phải chấp hành án hình phạt tù, không có điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh và chị Q không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, bị đơn anh K hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Đội 14, phân trại số A, trại giam V - Cục C - Bộ C1, nên không đến Tòa án làm việc được. Do vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

+ Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Như Q và anh Hoàng Đăng K.

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Q tự nguyện không yêu cầu. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Q tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Vũ Như Q và bị đơn là anh Hoàng Đăng K, anh K trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị Q và bị đơn anh K đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị Q và anh K.

[2]. Cuộc hôn nhân giữa chị Vũ Như Q và anh Hoàng Đăng K là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/01/2018 tại UBND xã Đ nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Chị Q và anh K đều xác định quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng hay sảy ra cãi vã. Đến năm 2019, anh K đã vi phạm pháp luật và Tòa án xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”. Hiện nay, anh đang chấp hành hình phạt tù tại Đội 14, phân trại số A, trại giam V - Cục C - Bộ C1; Địa chỉ: Xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi anh đi chấp hành hình phạt tù thì chị Q đã về nhà mẹ đẻ tại xã C, huyện Đ. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau. Nay chị Q đề nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị ly hôn anh K. Quan điểm của anh K là đồng ý ly hôn. Xét thấy, việc chị Q và anh K thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Q và anh K.

[3] Về con chung: Chị Q và anh K có 01 con chung là Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018. Hiện cháu đang ở cùng chị Q. Ly hôn, chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A và không đề nghị anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Quan điểm của anh K cũng đồng ý để chị Q nuôi con. Xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của chị Q và anh K là tự nguyện và phù hợp nên cần chấp nhận. Vì vậy cần giao con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018 cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do chị Q tự nguyện không yêu cầu. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị Q tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a,b khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:

  1. Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Như Q và anh Hoàng Đăng K.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 11/02/2018 cho chị Vũ Như Q trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Hoàng Đăng K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Q tự nguyện không yêu cầu. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Q tự nguyện xin chịu cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị Q đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023, số 0002181, ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị Q 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hợp Nhất;
  • - Lưu HS + VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Như Q và anh Hoàng Đăng K.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger