|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 14 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
ông Lê Vĩnh Huệ;
bà Phan Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Hen, sinh ngày 24/11/2002 tại nước CHDCND Lào; nơi cư trú trước khi bị bắt: bản SaMuoi, huyện S, tỉnh Salavan, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Pa Cô; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Trung học bậc 5 văn hóa Lào; con ông N (đã chết) và bà I, sinh năm 1975; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người làm chứng: ông V, sinh năm 1987; địa chỉ: bản T, huyện S, tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào; vắng mặt.
- Người phiên dịch: ông Hoàng Tùng L; địa chỉ: I đường H, khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 28/06/2023, Đ Biên phòng T phối hợp với Công an xã T, Đội đặc nhiệm phòng chống ma tuý và tội phạm - Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm - Bộ đội Biên phòng tỉnh Q tuần tra kiểm soát tại địa bàn khu vực đường mòn thuộc thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị phát hiện đối tượng tên H, quốc tịch Lào điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Sirius màu xám, không gắn biển kiểm soát chở đối tượng tên V, quốc tịch Lào lưu thông theo hướng từ bờ sông S đi vào nội địa có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Khi phát hiện thấy lực lượng chức năng, H và V vứt xe mô tô bỏ chạy, V chạy về hướng N sông S cách vị trí xe mô tô 18 mét thì bị lực lượng chức năng khống chế, H chạy về hướng B sông S cách vị trí xe mô tô 40 mét thì dùng tay trái ném gói ni lông màu đen ở túi quần phía bên trái đang mặc sang bên trái đường rồi tiếp tục chạy khoảng 05 mét thì bị lực lượng chức năng khống chế bắt giữ. Kiểm tra gói nilon màu đen Hen vứt phát hiện bên trong có 01 bao ni lông màu xanh đựng 196 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh, H khai nhận là ma túy mua về để sử dụng. Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra H khai nhận: Khoảng 10 giờ 28/6/2023, H gặp V thì được V hỏi “Đi lấy ma tuý không? Tao có 1.000.000 đồng đây”, H hiểu ý là đi đến nhà Pả C tại Lào để mua ma túy sử dụng nên đồng ý (Trước đó, H đã có lần đến nhà Pả C cách bờ sông S khoảng 01 km để mua ma túy). Sau đó, V điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát chở H đi. Trên đường đi do đường xấu và V không quen đường nên giao xe cho H điều khiển. H chở V đến bờ sông S rồi đi thuyền qua thôn T, xã B, huyện H và tiếp tục di chuyển đến thôn M, xã T, huyện H rồi đi thuyền qua sông S quay về nước Lào, đi được một đoạn thì H nói “Tiền đâu đưa tao”, V đưa cho H 900.000 đồng tiền Việt Nam, H lấy cất vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô chở V đến nhà Pả C. Đến nhà Pả C, H và V gặp một người đàn ông tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ). Hen hỏi: “Pả C đi đâu?” Khe nói “sẽ gọi Pả C về” rồi K đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau, Pả C về thì H hỏi mua “một túi” (khoảng 200 viên ma túy) và đưa 900.000 đồng cho Pả C. Pả C nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô đi khoảng 10 phút thì quay về. Pả C đưa cho V một gói màu đen. Sau khi nhận được ma túy, H điều khiển xe mô tô chở V quay về. Khi đi khỏi nhà Pả C khoảng 100m, V đưa gói ma túy cho H, H cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở V đi đến địa phận thôn M, xã T. Khi đi đến đoạn đường cách bờ sông S khoảng 80m thì H thấy lực lượng chức năng Việt Nam nên để lại xe mô tô rồi bỏ chạy, sau đó bị bắt như đã nêu trên.
Đối với V, quá trình làm việc V khai nhận có đi với H nhưng chỉ đi chơi, V hoàn toàn không biết việc H mua và cất dấu các viên nén ma túy, khi thấy H vứt xe bỏ chạy thì V cũng chạy theo chứ không biết chuyện gì xảy ra.
Vật chứng và tài sản bị thu giữ gồm:
- 196 viên nén màu hồng, hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ WY và 01 viên nén màu xanh hình trụ tròn một bề mặt có dập chìm chữ Y1 và 01 bề mặt có dập chìm chữ A, khi tạm giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT.
- 01 gói ni lon màu đen, 01 bao ni lon màu xanh, khi tạm giữ được niêm phong trong túi niêm phong, ký hiệu PS3A, mã số: PS3A 106411.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xám, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLCUE3740MY087511, số máy E32VE-313273, đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- + 196 viên nén màu hồng, hình trụ tròn được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số NS4 2206174 chứa trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng 18,2446g là ma túy loại Methamphetamine.
- + 01 viên nén màu xanh được niêm phong 01 túi niêm phong mã số NS4 2206174 chứa trong phong bì hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng 0,0990g không tìm thấy chất ma túy.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Cáo trạng số 20/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt chính: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 6 năm đến 7 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 28/6/2023.
- - Hình phạt bổ sung: đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
- - Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên: tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy là vật chứng trong quá trình bắt quả tang; trả lại xe moto nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, không gắn biển kiểm soát, số khung RLCUE3740MY087511, số máy E32VE-313273, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe cho ông V.
- - Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về Cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án.
Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Ngày 28/6/2023, bị cáo H mua ma túy của người đàn ông tên Pả C, đang trên đường đưa về nhà để sử dụng, khi đi đến địa phận thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì bị bắt giữ. Thu giữ của bị cáo 196 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 18,2446g ma túy loại Methamphetamine.
Bị cáo H là người có quốc tịch Lào nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam.
Bị cáo H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: hành vi của bị cáo H có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Do đó, Cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Xét tính chất vụ án, vai trò của bị cáo thấy:
Hành vi tàng trữ 18,2446g ma tuý loại Methamphetamine của bị cáo H là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, mà còn để lại hậu quả huỷ hoại sức khoẻ của nhiều thế hệ, gây tác hại nguy hiểm đến giống nòi, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn.
Hội đồng xét xử thấy trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét hành vi phạm tội của bị cáo với khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ lớn, gấp 3 lần tang số mức khởi điểm của khung hình phạt, xét bị cáo là người quốc tịch Lào, là người dân tộc Pa Cô, trình độ văn hóa mới học đến trung học bậc 5 văn hóa Lào, bị cáo có nhân thân tốt, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử cần quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Đối với những đối tượng có liên quan:
Đối với V và người đàn ông tên Pả C bán ma túy tại Lào, quá trình điều tra ngoài lời khai của H không có tài liệu khác để chứng minh nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Số ma túy và bao gói còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, không gắn biển kiểm soát, số khung RLCUE3740MY087511, số máy E32VE-313273, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe là xe của ông V nên cần trả lại cho ông V.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[9]. Do thời hạn tạm giam bị cáo còn dưới 45 ngày nên ra Quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2023.
- Xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) túi niêm phong, mã số: NS3A 102820, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Trần Thị Mỹ D, Trần Trọng L1, Trần Trung H1 và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 638/KL-KTHS, ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
- - 01 (một) túi giấy niêm phong, ký hiệu: PS3 1905493, bên ngoài có họ tên và chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị Thanh H2, Trần Trọng L1, Trần Trung H1 và hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh Q. (kèm theo Kết luận giám định số: 636/KL-KTHS, ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
* Trả lại cho ông V 01 (một) Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám đen, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLCUE3740MY087511, số máy E32VE-313273, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe.
(Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2024)
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
