Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số:30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Đức Hoàn

Ông Triệu Kim Bình

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q - Sinh năm 1991
  • HKTT tại: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
  • Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện Ứ, Hà Nội.
  • - Bị đơn: Anh Bùi Văn T - Sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Đại P - Luật sư công ty L
  • Địa chỉ: P, Tòa nhà C, KĐT M, phường M, Quận N, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên toà có mặt mặt chị Nguyễn Thị Q có mặt anh Bùi Văn T, vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trần Đại P, ông Trần Đại P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa

nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/11/2011 tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, nên thường xuyên bất đồng về quan điểm sống và cách làm ăn cư xử trong gia đình, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến hay xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được và càng trở nên trầm trọng kể kể từ đầu năm 2023 cho đến nay, cũng từ thời gian đó vợ chồng sống ly thân nhau không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T.

Về con chung: Chị và anh Bùi Văn T có 02 con chung là Bùi Thị Quỳnh N - Sinh ngày 09/02/2013 và Bùi Quang H - Sinh ngày 05/02/2018. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng mỗi người nuôi một cháu, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Bùi Quang H, giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Quỳnh N cho đến khi các cháu trưởng thành. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Văn T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 04/11/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn này đã được hai bên gia đình giàn sếp, giải quyết nhưng không thành, từ năm 2022 cho đến nay chị Q đi làm ăn tại Bắc Ninh và sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nếu chị Q làm đơn xin ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Q có 02 con chung là Bùi Thị Quỳnh N - Sinh ngày 09/02/2013 và Bùi Quang H - Sinh ngày 05/02/2018. Về con chung nguyện vọng của anh như sau, mặc dù về mặt pháp luật là anh hiểu mỗi người nuôi một đứa, tuy nhiên chị Q có quan hệ tình cảm ngoài với người khác và bỏ bê con cái trong thời gian đi làm tại Bắc Ninh, chị Q không đủ tư cách để nuôi con do đó nguyện vọng của anh là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con.

Tại phiên tòa anh Bùi Văn T có ý kiến, anh đồng ý giao cháu Bùi Quang H cho chị Q, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Quỳnh N cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phần tranh luận tại phiên Tòa:

- Ý kiến của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q: Chị vẫn giữ nguyên ý kiến như đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyện vọng của chị là yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T, về con chung chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Quang H cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của bị đơn anh Bùi Văn T: Anh thống nhất do tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý với yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Q, về con chung anh đồng ý giao cháu Bùi Quang H cho chị Q, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Quỳnh N cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành, anh không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn xin xét vắng mặt, đồng thời gửi bản luận cứ bảo vệ cho bị đơn, nội dung được tóm tắt như sau:

Về toàn bộ nội dung giải quyết vụ án người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn thống nhất với sự tự nguyện của các đương sự về việc giải quyết ly hôn, cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.

Về vấn đề con chung quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng chị Q và anh T có 2 con chung Bùi Thị Quỳnh N và cháu Bùi Quang H. Đối với cháu N cháu đã có ý kiến muốn ở với bố, chị Q cũng đồng ý với vấn đề này nên đề nghị HĐXX giao cháu N cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với cháu H hiện tại cháu đang ở với anh T được anh T chăm sóc nuôi dưỡng từ bé, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị HĐXX xem xét đến sự phát triển ổn định, không làm xáo trộn cuộc sống của cháu H, nếu giao con cho chị Q thì hai chị em không được gần nhau do chị Q sinh sống tại địa phương khác, đồng thời khẳng đinh anh T là người có đủ điều kiện, đủ tình yêu thương để chăm sóc cả hai con cho đến khi trưởng thành. Đề nghị HĐXX xem xét những luận cứ trên để giao cả hai cháu Bùi Thị Q và Bùi Quang H cho anh T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Bùi Văn T. Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Thị Quỳnh N - Sinh ngày 09/02/2013 và Bùi Quang H - Sinh ngày 05/02/2018. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự giao cháu Bùi Thị Quỳnh N cho anh Bùi Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục (theo nguyện vọng của cháu Quỳnh N), giao cháu Bùi Quang H cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đến tuổi thành niên. Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Chị Nguyễn Thị Q phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Bùi Văn T. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

    Tại phiên tòa Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, ông Trần Đại P vắng mặt, ông P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.

  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 04/11/2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Q và anh T đều thừa nhận: Mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên xảy ra cãi vã, thời gian vợ chồng ly thân nhau cũng kéo dài từ năm 2023 cho đến nay nên hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Việc này đã được chính quyền Ủy ban nhân dân xã xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Nay chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Bùi Văn T.
  3. [3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T thống nhất trong quá trình chung sống vợ, chồng có 02 con chung là Bùi Thị Quỳnh N - Sinh ngày 09/02/2013 và Bùi Quang H - Sinh ngày 05/02/2018. Ly hôn chị Nguyễn Thị Q có nguyện vọng giao cho mỗi người nuôi một cháu, chị có nguyện vọng được nuôi cháu Bùi Quang H. Tại phiên tòa anh Bùi Văn T đồng ý giao cháu Bùi Quang H cho chị Q, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Quỳnh N cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên HĐXX chấp nhận, giao cháu Bùi Quang H cho chị Nguyễn Thị Q được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Thị Quỳnh N cho anh Bùi Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
  4. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Q và anh T đều có nguyện vọng, khi giao con không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý chí tự nguyện của các đương sự.
  5. [5] Về chia tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên về tài sản chung hội đồng xét xử không xem xét.
  6. [6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. [7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147, Điều 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. 1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Bùi Văn T.
  2. 2. Về con chung: Giao cháu Bùi Quang H cho chị Nguyễn Thị Q, giao cháu Bùi Thị Quỳnh N cho anh Bùi Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành.

    Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

  3. 3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004203 ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, chị Nguyễn Thị Q đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T. Chị Nguyễn Thị Q và anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - UBND xã Phùng Giáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Đức HoànTriệu Kim BìnhPhạm Xuân Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger