Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-05-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh

Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12tháng 04 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/QĐHPT ngày 02 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thanh L, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)

Trú tại: Tổ A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị đơn: Anh Cao Xuân C, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh L trình bày:

Vào ngày 18/3/2015, chị L và anh Cao Xuân C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chị L và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được thời gian đầu đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về cách sống, cách làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra xích mích, cãi vã và thiếu tôn trọng nhau. Do vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa, chị đã đưa con chung đi về sinh sống và làm ăn ở bên ngoại, không còn chung sống với anh C nữa. Chị và anh C đã sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

- Về con chung: chị L và anh C chỉ có 01 con chung là Cao Hoàng S, sinh ngày 13/5/2015. Từ ngày chị L và anh C sống ly thân cho đến nay do một mình chị nuôi con, hơn nữa con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, nguyện vọng của chị L sau khi ly hôn là được trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

- Về tài sản chung và nợ: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Cao Xuân C:

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Cao X thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Do đó cán bộ Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An không thể tiến hành được việc tống đạt các văn bản tố tụng trực tiếp cho anh C được. Tòa án đã tiến hành tống đạt: Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án và đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Thanh L (bản phô tô); giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa đối với anh C cho bà Hoàng Thị M (bà M là mẹ đẻ của anh C, anh C sống cùng nhà với bà M), bà M nhận và cam đoan giao trực tiếp, thông báo các văn bản của Tòa án cho anh C, để Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Anh Cao Xuân C không có bản khai tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định tư cách pháp lý của các đương sự; thu thập chứng cứ; cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự; thực hiện thời hạn chuẩn bị xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định về phổ biến nội quy phiên tòa, kiểm tra báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa.

Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, thực hiện nội dung, phương thức, thứ tự tranh tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh L được ly hôn anh Cao Xuân C.

- Về con chung: Giao con chung Cao Hoàng S sinh ngày 13/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thanh L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Anh Cao Xuân C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Cao Xuân C vì chị L chưa có yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con. Bị đơn cư trú tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2]. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Theo lời khai của chị Hoàng Thị Thanh L, được thể hiện trong đơn khởi kiện và tại các tài liệu trong hồ sơ thì thấy: Chị Hoàng Thị Thanh L và anh Cao Xuân C kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 18/3/2015; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Thanh L và anh Cao Xuân C là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[2.2]. Xét yêu cầu của đương sự:

- Đối với yêu cầu về ly hôn: Nguyên đơn chị L khai: Vào ngày 18/3/2015, chị L và anh Cao Xuân C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Kết hôn trên cơ sở tự nguyên có tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được thời gian đầu đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về cách sống, cách làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra xích mích, cãi vã lẫn nhau và thiếu tôn trọng nhau. Do vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa, chị đã đưa con đi làm ăn và sinh sống ở bên ngoại, không còn chung sống với anh C nữa. Chị và anh C đã sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay, cắt đứt mọi quan hệ. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Bị đơn anh Cao Xuân C thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Hoàng Thị M (bà M là mẹ đẻ của anh C, anh C sống cùng nhà với bà M) nhận và cam đoan giao cho anh C nhưng anh C không có bất cứ ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc kết hôn là để vợ chồng cùng chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương, chia sẻ với nhau khó khăn trong cuộc sống. Đó cũng là nghĩa vụ, bổn phận của người làm vợ, làm chồng. Qua lời khai của người làm chứng bà Hoàng Thị M cho thấy; vợ chồng chị L, anh C sau khi lấy nhau thì về chung sống cùng nhà với bà M tại thôn X, xã D nhưng đến cuối năm 2016 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì không được rõ, bà M cũng đã khuyên bảo vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng không có kết quả, từ ngày chị L và anh C sống ly thân cho đến nay thì chị L đã đưa con về chung sống với gia đình của chị L ở Hà Tĩnh. Như vậy, có thể khẳng định, hôn nhân giữa chị L và anh C đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Hoàng Thị Thanh L được ly hôn anh Cao Xuân C.

- Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh L và anh Cao Xuân C chỉ có 01 con chung là Cao Hoàng S sinh ngày 13/5/2015. Từ ngày chị L và anh C sống ly thân cho đến nay, cháu S do chị L nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng; việc nuôi con là nghĩa vụ của người làm bố và người làm mẹ; chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, cháu S có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; giao con chung cháu Cao Hoàng S cho chị Hoàng Thị Thanh L được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị Thanh L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị Thanh L và anh Cao Xuân C.
  2. Về con chung: Giao con chung Cao Hoàng S, sinh ngày 13/5/2015 cho chị Hoàng Thị Thanh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Cao Xuân C vì chị L chưa có yêu cầu.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị Thanh L không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0011247 ngày 23/02/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, chị L đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Thi hành án DS H. Diễn Châu;
  • - UBND xã Diễn Kỷ (nơi ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn đơn phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger