|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13/5/2024 V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Minh Thi
- Ông Lê Thanh Phong
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Như Ngọc, thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Lệ N, sinh năm 1985
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1985
Nơi cư trú: ấp 7, xã Thới H, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: khu vực G, phường C, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị Lệ N trình bày: Bà và ông Nguyễn Ngọc A tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Phú Q (nam), sinh ngày 14/12/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông A không quan tâm chăm sóc gia đình, ông bà không có tiếng nói chung. Bà N thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông A.
Về con chung: cháu Nguyễn Phú Q hiện đang sống cùng bà N nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú Quí đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A: tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông A vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến của ông A được.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn bà Bùi Thị Lệ N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A, về con chung bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú Q đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc A vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành thủ tục niêm yết xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện bà Bùi Thị Lệ N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Bùi Thị Lệ N và ông Nguyễn Ngọc A tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà N và ông A đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyên.
[4] Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc A, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần mà ông A vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa, chứng tỏ ông không còn thiết tha đến việc hàn gắn tình cảm gia đình nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung: bà Bùi Thị Lệ N và ông Nguyễn Ngọc A có 01 con chung tên Nguyễn Phú Quí (nam), sinh ngày 14/12/2017 hiện đang sống cùng bà N và bà N có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q đến khi trưởng thành không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Nhưng do xét xử vắng mặt ông A nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.
[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 51, Điều 53; Điều 56; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân:
bà Bùi Thị Lệ N được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc A.
Về con chung:
giao cháu Nguyễn Phú Q (nam), sinh ngày 14/12/2017 cho bà Bùi Thị Lệ N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Nguyễn Ngọc A theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Nhưng do xét xử vắng mặt ông A nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: bà Bùi Thị Lệ N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004496 ngày 18/01/2024 thành án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đặng Nguyễn Khánh Xuân |
* Nơi nhận:
- - VKSND Q. Ô Môn;
- - Thi hành án Q. Ô Môn;
- - Các đương sự;
- - TAND TPCT;
- - Lưu hồ sơ;
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn N-A
