Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

Số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/07/2024

V/v: Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Xuân Tỵ;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung.

Hôm nay, ngày 11 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-ST ngày 20/06/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Bảo Q, sinh năm 1981;

Nơi cư trú: Số nhà I Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Trương Văn N, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: Số nhà G Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Bảo Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trương Văn N kết hôn và chung sống với nhau vào từ ngày 25/11/2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn do ông N thường hay nhậu nhẹt về đánh đập, chửi bới vợ con, mặc dù đã cố gắng tha thứ nhưng vợ chồng không hàn gắn khắc phục được mâu thuẫn, từ tháng 6/2023 thì bà và ông N đã sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho bà và ông Trương Văn N.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Trương Văn Bảo A, sinh ngày 02/05/2003 (đã thành niên); Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021. Ly hôn bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên là cháu Trương Văn Bảo D, bà Q không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung, nợ riêng: Không có.

Bị đơn ông ông Trương Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà Q được ly hôn với ông N là có cơ sở chấp nhận; về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Trương Văn Bảo A, sinh ngày 02/05/2003 (đã thành niên); Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021; đề nghị giao con chung tên Trương Văn Bảo D cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung các đương sự khai không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Bảo Q khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Trương Văn N; cư trú tại: Số G Quốc lộ B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Bảo Q và ông Trương Văn N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật. Bà Q khai quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống của vợ chồng khác nhau, ông N thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập chửi bới vợ con, nay bà không còn tình cảm với ông N do đó đề nghị được ly hôn với ông N; mặc dù ông N không đến tòa án làm việc, không có lời khai trình bày về quan hệ hôn nhân với bà Q, tuy nhiên qua xác minh tại địa phương xác định bà Q và ông N không còn sống chung với nhau, do đó có thể xác định giữa bà Q và ông N có mâu thuẫn không thể khắc phục được, đời sống chung vợ chồng không có. Bà Q cương quyết ly hôn với ông N. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q là có căn cứ và hợp pháp.

[4]. Về nuôi con chung: Ông bà có 02 con chung tên Trương Văn Bảo A, sinh ngày 02/05/2003 (đã thành niên); Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021. Bà Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, từ khi bà Q và ông N sống ly thân thì cháu D do bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, xét cháu D còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021 cho bà Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Bà Q khai đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

[6]. Về nợ chung, nợ riêng: Các đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.

[7]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Bảo Q và ông Trương Văn N.

2. Về con chung: Bà Q và ông N có 02 con chung tên Trương Văn Bảo A, sinh ngày 02/05/2003 (đã thành niên); Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021.

Giao con chung tên Trương Văn Bảo D, sinh ngày 28/07/2021 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên. Bà Q có đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Lê Bảo Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006124 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (Bà Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm).

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • + Các đương sự;
  • + VKSND TP. Bảo Lộc;
  • + T.H.A Bảo Lộc;
  • + TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • + UBND xã Lộc Châu, Bảo Lộc, Lâm Đồng.
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Bảo Q yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger