|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 10 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Xuân Thuận;
- Ông Phan Hùng Cường.
- Thư ký phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Đình V
sinh ngày 03 tháng 12 năm 1968, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 8/10; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H và bà Nguyễn Thị N; vợ: Đoàn Thị N1 và 04 người con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Trần Xuân T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. (đã chết)
- Người địa diện hợp pháp của bị hại Trần Xuân T:
Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, Quảng Bình, có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1995.; nơi cư trú: Thôn A Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Trần Đình V điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu DEAHAN, biển kiểm soát 73N4 - 0960 kéo theo xe tự chế lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng thị trấn Đ đi thị xã B. Khi đến Km 34+800 thuộc địa phận thôn A Đ, xã Đ, huyện T do không chú ý quan sát nên đã xảy va chạm với xe đạp nhãn hiệu SALLWAY do ông Trần Xuân T điều khiển đi phía trước cùng chiều dẫn đến tai nạn. Hậu quả: Ông Trần Xuân T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H3 - Cu Ba Đ đến ngày 21/01/2024 thì tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định: Giữa hai phương tiện có dấu vết va chạm, va chạm xảy ra tại phần đường bên phải theo chiều đi của các phương tiện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 19/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự huyện T, kết luận về thiệt hại hư hỏng của xe đạp nhãn hiệu: SALLWAY; Màu sơn: Trắng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông ngày 20/01/2024 có giá là 245.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định tử thi số: 135/KL-PY ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định nguyên nhân chết của ông Trần Xuân T là: chân thương sọ não đã điều trị không hồi phục.
Tại Bản kết luận số 226/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- Dấu vết hằn trượt tạo thành các rãnh song song bám dính chất màu nâu đỏ (dạng gỉ kim loại) ở mặt ngoài phần sau chắn bùn bánh sau xe đạp nhãn hiệu SALLWAY có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước mất gỉ kim loại màu nâu đỏ ở mặt bên trái phần trên thanh kim loại cố định bên trái tấm chắn phía trước thùng hàng xe tự chế.
Đặc điểm các dấu vết nêu trên phù hợp tình huống góc trước bên trái thùng hàng tự chế (được kéo bởi xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960) va chạm với chắn bùn bánh sau xe đạp nhãn hiệu SALLWAY theo hướng từ sau tới trước so với trục dọc của xe đạp nêu trên.
- Dấu vết trượt xước ở đầu ngoài tay lái bên phải, giỏ hàng phía trước, đầu ngoài bàn đạp bên phải, đầu bên phải trục bánh sau xe đạp nhãn hiệu SALLWAY có đặc điểm phù hợp với tình huống xe đạp nêu trên ngã nghiêng sang phải va chạm với mặt đường được mô tả trong biên bản khám nghiệm hiện trường.
Dấu vết gãy vỡ ở mang xe bên trái xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960 có đặc điểm phù hợp tình huống xe mô tô va chạm với đối tượng khác mà có bề mặt cứng, nhỏ.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng liên quan đến vụ án, gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960, nhãn hiệu: DEAHAN; Màu sơn: Nâu; xe đã cũ qua sử dụng; 01 xe tự chế, đã cũ qua sử dụng; 01 xe đạp nhãn hiệu SALLWAY; màu sơn: Trắng; xe đã cũ, qua sử dụng; 01 giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Trần Đình V, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/6/2020.
Về xử lý vật chứng: Ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lại tài sản cho đại diện gia đình người bị hại bà Hoàng Thị T1 một xe đạp nhãn hiệu SALLWAY; màu sơn: Trắng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Đình V đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại bà Hoàng Thị T1 đã nhận đủ số tiền nói trên và không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSTH-HS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Trần Đình V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Trần Đình V từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng 30 tháng; về trách nhiệm bồi thường dân sự: không đề nghị xem xét thêm; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 xe tự chế, đã cũ qua sử dụng; áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo Trần Đình V 01 xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960, nhãn hiệu: DEAHAN; 01 giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Trần Đình V, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/6/2020; về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Nói lời sau cùng, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng:
- [2] Về hành vi phạm tội:
- [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
- [5] Về vật chứng:
- [6] Về án phí:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy hành vi và các quyết định tố tụng mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Đình V đã khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Trần Đình V điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu DEAHAN, biển kiểm soát 73N4 – 0960, lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng thị trấn Đ đi thị xã B. Khi đến Km 34+800 thuộc địa phận thôn A Đ, xã Đ, huyện T do không chú ý quan sát nên đã xảy va chạm với xe đạp nhãn hiệu SALLWAY do ông Trần Xuân T điều khiển đi phía trước cùng chiều dẫn đến tai nạn. Hậu quả ông Trần Xuân T bị thương, được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện và sau đó tử vong. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi điều khiển phương tiện giao thông của bị cáo, do thiếu chú ý quan sát đã gây tai nạn làm chết 01 người. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bị cáo Trần Đình V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác. Mặc dù bị cáo đã được học và cấp giấy pháp lái xe đúng quy định, nhưng quá trình tham gia giao thông, điều khiển xe không chú ý quan sát đã gây tai nạn. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả kịp thời, đầy đủ các khoản chi phí; bố của bị cáo ông Trần Xuân H (Trần Xuân H2) là người được “Vinh danh là người có công với cách mạng”; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 mà bị cáo được hưởng. Ngoài ra, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Xét việc thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại trong giai đoạn điều tra là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận. Bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường theo thỏa thuận, phía đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960, Nhãn hiệu: DEAHAN; màu sơn: Nâu; xe đã cũ qua sử dụng có nguồn gốc là tài sản chung của gia đình, đồng thời là phương tiện lao động kiếm sống chính của gia đình nên cần trả lại cho bị cáo Trần Đình V. Ngoài ra trả lại cho anh Trần Đình V 01 giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Trần Đình V, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/6/2020 là phù hợp. Đối với 01 xe tự chế, đã cũ qua sử dụng là phương tiện gây tai nạn, không được phép lưu thông nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Trần Đình V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
Tuyên bố bị cáo Trần Đình V phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thượng vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Trần Đình V 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024
Giao bị cáo Trần Đình V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.
Không xem xét thêm.
Trả lại cho bị cáo Trần Đình V: 01 xe mô tô biển kiểm soát 73N4-0960, Nhãn hiệu: DEAHAN; màu sơn: nâu; xe đã cũ qua sử dụng; 01 giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Trần Đình V, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 08/6/2020
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe tự chế, đã cũ qua sử dụng (Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, có các đặc điểm mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá)
Buộc bị cáo Trần Đình V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, người địa diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Anh Tuấn |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Trần Đình V
