|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ - ST Ngày 10 - 7 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đinh Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam;
Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 01, Trại giam P, thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đinh Thị L1 trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, việc chung sống của ông bà là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý và có làm đám cưới theo phong tục tập quán. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây mâu thuẫn hai vợ chồng xảy ra, lý do hai bên khác biệt về tính cách, không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, hiện nay ông T đang chấp hành hình phạt tù 05 năm tại Trại giam P, thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương từ năm 2023. Bà xét thấy đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn xin được ly hôn với ông Phạm Tịnh .
- Về con chung: Bà và ông T có 02 người con chung tên là Phạm Ánh T1, sinh ngày 17/01/2009 và Phạm Chí T2, sinh ngày 19/10/2015. Nếu ly hôn bà xin tôn trọng quyền quyết định của hai con vì 02 con đã trên 07 tuổi. Nếu hai con có nguyện vọng sống cùng với bà thì bà đồng ý nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con;
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết
Tại bản tự khai bị đơn ông Phạm T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà L1 chung sống với nhau từ năm 2008 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Do ông đang chấp hành hình phạt tù nên không đồng ý ly hôn vì còn nhiều vấn đề không giải quyết được.
- Về con chung: Ông và bà L1 có 02 người con chung tên là Phạm Ánh T1, sinh ngày 17/01/2009 và Phạm Chí T2, sinh ngày 19/10/2015. Nếu ly hôn ông không đồng ý để bà L1 nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Toà án giải quyết
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Thị L1 với ông Phạm T; về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Ánh T1, sinh ngày 17/01/2009 và Phạm Chí T2, sinh ngày 19/10/2015 cho bà L1 trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn hiện đang cư trú tại Trại giam P, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn - bị đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà Đinh Thị L1 và ông Phạm T là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam năm 2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn cho rằng mâu thuẫn hai vợ chồng xảy ra, lý do không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau hiện không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, do vậy nguyên đơn làm đơn xin ly hôn. Bị đơn cho rằng mâu thuẫn do đang bị thi hành hình phạt tù nhưng không đồng ý ly hôn.
HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện tại bị đơn đang chấp hành hình phạt tù 05 năm từ năm 2023 về tội đánh bạc tại Trại giam P. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định bà Đinh Thị L1 và ông Phạm T có 02 con chung tên là Phạm Ánh T1, sinh ngày 17/01/2009 và Phạm Chí T2, sinh ngày 19/10/2015, hiện tại các con đang sinh sông cùng bà L1.
HĐXX xét thấy 02 con tên đã trên 07 tuổi, các con có nguyện vọng ở với mẹ, ông T hiện đang chấp hành hình phạt tù không có điều kiện nuôi con nên HĐXX xem xét nguyện vọng của con để giao con cho bà L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị L1 đối với bị đơn ông Phạm T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về hôn nhân: Bà Đinh Thị L1 được ly hôn với ông Phạm Tịnh .
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Ánh T1, sinh ngày 17/01/2009 và Phạm Chí T2, sinh ngày 19/10/2015 cho bà Đinh Thị L1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Phạm T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, bà Đinh Thị L1 cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông Phạm T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị L1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0002962 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 36/2024/HNGĐ - ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Luyen - Tinh - Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
