|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA Bản án số: 30/2024/HSST Ngày 10/7/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vũ Văn Doãn
Bà Đoàn Thị Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thụy C - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Lê Khắc Q; Sinh ngày 05/10/1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Lê Khắc T và bà Lê Thị T1; Bị cáo có vợ là Lường Thị Thu T2 và có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 10/4/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1998. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Khắc H, sinh năm 1978. Có mặt
Địa chỉ: phố Đ, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 04/4/2024, Lê Khắc Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M2 - 7863 đi từ nhà ở Phố V, thị trấn B, huyện H theo Quốc lộ A sang huyện H, tỉnh Thanh Hóa để tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền trả nợ. Khi đi đến quán C1 thuộc thôn Đ, xã H, huyện H của chị Nguyễn Thị V (sinh năm: 1998, trú cùng địa chỉ và là chủ sở hữu), Q nhìn thấy chị V đang quét sân trước nhà, bên trong quán không có người, Q dựng xe mô tô ở phía trước quán và gặp chị V nên gọi ly cà phê để uống. Sau khi pha cà phê xong, chị V mang ly cà phê ra bàn cho Q uống và Q ngồi hút thuốc lào, còn chị V tiếp tục quét dọn phía trước nhà. Nhìn thấy trong phòng khách của gia đình chị V không có người, Q đi vào trong phòng khách thì nhìn thấy cháu Nguyễn Ngọc Anh T3 (sinh ngày: 25/3/2022, là con của chị V) đang nằm chơi trên ghế, còn trên bàn uống nước bằng gỗ của gia đình chị V có một chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, loại 128Gb. Sau đó, Q dùng tay phải cầm chiếc điện thoại này lên bỏ vào túi quần bên phải rồi quay ra khỏi phòng khách, Q tiếp tục đi vào khu vực quầy bán cà phê để tìm tài sản trộm cắp nhưng không có tài sản gì nên đi ra phía trước quán cà phê. Lúc này, chị V gặp Q nên hỏi “anh đi đâu đấy”, Q trả lời: “anh về lấy cái áo quay lại luôn” và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi bán chiếc điện thoại. Chị V thấy nghi ngờ nên đi vào trong nhà kiểm tra thì phát hiện thấy chiếc điện thoại đã bị mất và kiểm tra Camera thì phát hiện thấy Q đi vào trong phòng khách khi không có người nên đã gọi điện báo Công an xã H, huyện H; còn Q điều khiển xe mô tô đi đến thị trấn H, huyện H thì nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên Q đã tự nguyện đến Công an xã H, huyện H đầu thú, khai báo về hành vi của mình. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã H đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, loại 128Gb trị giá 12.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Lê Khắc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, loại 128Gb là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M2 - 7863 là tài sản hợp pháp của anh Lê Khắc H (sinh năm: 1978, trú tại phố Đ, thị trấn B, huyện H), quá trình điều tra xác định bị cáo Lê Khắc Q sử dụng đi trộm cắp tài sản, anh Lê Khắc H không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị V không yêu cầu bị cáo Lê Khắc Q bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT -VKSHL ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Lê Khắc Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i s, khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với:
Bị cáo Lê Khắc Q từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mới chuyển công tác từ Nam ra B, bị cáo có hai con nhỏ và bố mẹ già nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận và trong lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Để có tiền trả nợ, khoảng 07 giờ 10 phút ngày 04/4/2024, Lê Khắc Q đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, loại 128Gb trị giá 12.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị V đang để ở trong phòng khách của gia đình ở thôn Đ, xã H, huyện H. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai trước đây của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với báo cáo của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của Lê Khắc Q có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.
Xét về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng tuy nhiên Lê Khắc Q đã lợi dụng sự sơ hở, lén lút đột nhập vào nhà người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản là đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an, gây hoang mang tư tưởng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới đủ răn đe giáo dục bị cáo cũng như giáo dục chung cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú, bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS và theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/ NQHĐTPTANDTC ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, hiện tại đang nuôi bố mẹ già và hai con còn nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Khắc Q phạm tội " Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt: Bị cáo Lê Khắc Q 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Khắc Q cho UBND thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Khắc Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lường Thị Hoa |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 30/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc Quang trộm cắp điện thoại
