Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DS-ST

Ngày 08 tháng 07 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng

hợp tác trồng lúa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong

2. Ông Nguyễn Thành Đến

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha – Kiểm sát viên

Trong ngày 08 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 216/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác trồng lúa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Hợp tác xã D

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt – Có đơn xin vắng).

Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn K trình bày:

Vào ngày 30/04/2022, Hợp tác xã D (sau đây gọi tắc là Hợp tác xã) và ông Lê Văn L có ký kết hợp đồng liên kết sản xuất lúa số 26/02.HT.2022/HĐ-LKSX kèm phụ lục hợp đồng số 01. Theo thỏa thuận giữa hai bên thì hợp tác xã bao tiêu sản xuất thu mua lúa với ông Lê Văn L với diện tích là 130 ha, canh tác trồng lúa OM18, khi cuối vụ chốt giá thu mua lại là 5.650 đồng/kg lúa tươi.

Trong quá trình hợp tác, hợp tác xã có đầu tư giống, phân, thuốc cho ông Lê Văn L cụ thể như sau: Hợp tác xã cho ông L ứng trước số tiền để mua lúa giống là: 850.000.000 đồng. Tổng số tiền vật tư nông nghiệp mà Hợp tác xã đã đầu tư cho ông L là: 1.063.035.960 đồng. Cuối vụ ông Lê Văn L đã giao cho Hợp tác xã được tổng sản lượng lúa quy đổi ra thành tiền là: 1.248.661.300 đồng. Đối trừ số tiền mà Hợp tác xã đã cho ông L ứng trước để mua lúa giống và số tiền vật tư nông nghiệp mà Hợp tác xã đã đầu tư cho ông L nêu trên với số tiền lúa mà ông L đã giao cho hợp tác xã thì phía ông L còn nợ lại Hợp tác xã số tiền là 664.374.660 đồng.

Vụ việc kèo dài từ năm 2022 đến nay nhưng ông L không thanh toán số tiền trên cho Hợp tác xã. Vào ngày 18/10/2022 giữa hợp tác xã với ông Lê Văn L có lập biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ, tại biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ đề ngày 18/10/2022 thì phía ông L thừa nhận còn nợ lại hợp tác xã số tiền là 664.374.660 đồng, đồng thời ông L cũng có cam kết đến ngày 30/10/2022 sẽ thanh toán cho Hợp tác xã số tiền 100.000.000 đồng và số vật tư nông nghiệp mà hợp tác đã đầu tư trước đó cho ông L còn thừa, ông L sẽ trả lại cho Hợp tác xã để cấn trừ số nợ mà hai bên xác nhận nêu trên. Tuy nhiên sau đó ông L không thực hiện đúng như cam kết. Tại biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ đề ngày 18/10/2022 ở mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” sau khi ông Lê Văn L ký tên thì ông L có ghi nội dung “chưa thỏa thuận lúa giống chưa xong” là do thời điểm hai bên lập biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ nêu trên ông L có đặt ra yêu cầu phía hợp tác xã phải hỗ trợ tiền lúa giống cho ông L với số tiền là 255.000.000 đồng nhưng phía hợp tác xã không đồng ý vì trong hợp đồng cũng như phụ lục hợp đồng liên kết sản xuất lúa giữa hai bên không có thỏa thuận về việc hợp tác xã hỗ trợ tiền lúa giống cho ông L.

Do đó, Hợp tác xã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn L phải có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã tổng số tiền là 664.374.660 đồng nêu trên. Ngoài ra Hợp tác xã không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn ông Lê Văn L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có xuống địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cũng như làm việc với ông Lê Văn L tuy nhiên ông L không có mặt tại nhà. Qua xác minh chính quyền địa phương thì được biết ông Lê Văn L vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu tuy nhiên ông L rất ít khi ở nhà, có khi nửa tháng hoặc một tháng ông L mới về nhà một lần, tuy nhiên chính quyền địa phương cũng không biết chính xác thời gian ông L trở về nhà. Do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L đối với yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã. Đồng thời Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để giải quyết vụ án.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay nguyên đơn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã. Buộc ông Lê Văn L có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã tổng số tiền là 664.374.660 đồng. Ngoài ra ông L còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn Hợp tác xã khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Văn L trả cho Hợp tác xã tổng số tiền 664.374.660 đồng từ việc hợp tác xã và ông L ký kết hợp tác trồng lúa với nhau nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng hợp tác trồng lúa. Đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã N, huyện H nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn có đơn xin vắng mắt, bị đơn ông Lê Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn và bị đơn căn cứ vào khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã yêu cầu bị đơn ông Lê Văn L phải trả cho Hợp tác xã tổng số tiền là 664.374.660 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đễ chứng minh giữa nguyên đơn với bị đơn có ký kết hợp đồng hợp tác trồng lúa và bị đơn có nợ nguyên đơn tổng số tiền 664.374.660 đồng từ việc hai bên hợp tác trồng lúa thì nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án “Hợp đồng liên kết sản xuất lúa” đề ngày 30/4/2022 kèm phụ lục hợp đồng số 01 (Bút lục 05 – 12) cùng “Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ” đề ngày 18/10/2022 (Bút lục 04).

Qua xem xét nội dung “Hợp đồng liên kết sản xuất lúa” kèm phụ lục hợp đồng số 01 cùng “Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ” nêu trên thì Hội đồng xét xử thấy rằng, vào ngày 30/04/2022, Hợp tác xã và ông Lê Văn L có ký kết hợp đồng liên kết sản xuất lúa số 26/02.HT.2022/HĐ-LKSX kèm phụ lục hợp đồng số 01. Theo thỏa thuận thì hợp tác xã bao tiêu sản xuất thu mua lúa với ông Lê Văn L với diện tích là 130 ha, canh tác trồng lúa OM18.

Trong quá trình hợp tác, hợp tác xã có đầu tư giống, phân, thuốc cho ông Lê Văn L và ông Lê Văn L cũng có giao lúa cho Hợp tác xã nhận. Vào ngày 18/10/2022 giữa ông L với Hợp tác xã có tiến hành đối trừ số tiền mà Hợp tác xã đã đầu tư cho ông L với tiền lúa mà ông L đã giao cho hợp tác xã nhận thì phía ông L có ký xác nhận còn nợ lại Hợp tác xã số tiền là 664.374.660 đồng. Đồng thời từ khi ký nhận nợ đến nay phía ông L không có thanh toán số tiền nêu trên cho hợp tác xã D1 yêu cầu ông L phải có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã tổng số tiền 664.374.660 đồng từ việc hợp tác trồng lúa nêu trên là có cơ sở cấp nhận.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

[5] Về án phí: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho Hợp tác xã là 30.574.986 đồng, lấy tròn là 30.575.000 đồng.

Hợp tác xã không phải chịu án phí.

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 357, khoản 3 Điều 440, 468 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 2; 6; 7; 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã D đối với bị đơn ông Lê Văn L.

    Buộc ông Lê Văn L có trách nhiệm trả cho Hợp tác xã D tổng số tiền là 664.374.660 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  2. Về án phí: Buộc ông Lê Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 30.575.000 đồng.

    Hợp tác xã D đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 15.287.000 đồng theo biên lai thu số 0007390 ngày 30/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (1b);
  • - VKSND huyện (2b);
  • - CC.THADS huyện (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tú Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng hợp tác trồng lúa

  • Số bản án: 30/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác trồng lúa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp tác xã D với Lê Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger