Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 07/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung, ông Nguyễn Văn Mừng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Vào ngày 07 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/HSST- QĐ ngày 01 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ VĂN CƯỜNG - Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 08/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1941. Bị cáo có vợ là Phạm Thị D, sinh năm: 1990 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi cư trú số 09/2024/LC- TA ngày 29/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt);

- Bị hại: Hà Văn N (Đã chết).

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Anh Hà Văn N1 - Sinh năm: 1991. Địa chỉ: bản C, xã N, Q, Thanh Hóa (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Anh Hà Văn N2 - Sinh năm: 1987 (vắng mặt có lý do). Địa chỉ: bản Chiềng, xã Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2, Anh Lê Đình T1 - Sinh năm: 1986 (vắng mặt có lý do). Địa chỉ: Số D Đ, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng: Chị Đoàn Thị H - Sinh năm: 1977 (vắng mặt không lý do). Địa chỉ: bản N, xã P, huyện M, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 11/01/2024, Lê Văn C điều khiển xe oto chở khách Biển kiểm soát 36B-023.51 (đăng kí mang tên Lê Đình T1) đi theo tuyến từ huyện M về Thành phố T. Khoảng 13h20 cùng ngày, khi lưu thông đến Km 25+400 Quốc lộ A, thuộc địa phận bản Chiềng, xã N, huyện Q; lúc này có ông Hà Văn N (sinh năm: 1967, địa chỉ: bản C, xã N, Q, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển xe moto biển kiểm soát 36H5-06007 di chuyển theo hướng ngược chiều với xe bị cáo đang điều khiển, ngay lúc này bị cáo phát hiện ông N điều khiển xe moto loạng choạng đi ở phần bên phải theo chiều đi của bị cáo; nên bị cáo đánh lái sang trái, điều khiển xe oto sang phía bên trái lấn sang phần đường ngược chiều dẫn đến va chạm với xe moto biển kiểm soát 36H5-060.07. Hậu quả dẫn đến ông Hà Văn N tử vong và hai xe bị hư hỏng.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi và trưng cầu giám định các nội dung liên quan. Kết quả thể hiện:

  • + Kết quả khám nghiệm hiện trường (vào 14h30 cùng ngày): Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa thuộc Km 25 + 400 Quốc lộ A. Đoạn đường phẳng, rộng 6,7m, có vạch kẻ nét đứt màu vàng. Điều kiện khám nghiệm: trời khô, se lạnh có ánh sáng tự nhiên. Đoạn đường không có biển báo hiệu giao thông, tầm nhìn không hạn chế. Tại hiện trường phát hiện các dấu vết gồm: xe moto biển kiểm soát 36H5-06007 đổ nghiêng phải, xe oto biển kiểm soát 36B-02351 dựng ở bên đường; trên mặt đường có vết cà trượt không liên tục kích thước 3,5 m x 0,03m, vết cà trượt không liên tục kích thước 3,68m x 0,02m; vết tì trượt (vết phanh) bám dính chất màu đen dạng cao su kích thước 11,2m x 0,3m.
  • + Tại Kết luận giám định tử thi số 461/KLGDTT-PC09 ngày 31 tháng 01 năm 2024; Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Tử thi có các vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu tại vùng: mặt, ngực, bụng, tứ chi; gãy 1/3 trên hai xương cằng chân trái; tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng, trung thất; gãy cung trước xương sườn số 3,4,5 bên phải; ổ bụng có khoảng 3,5 lít máu không đông lẫn máu đông; vỡ gan, vỡ lách, xơ gan. Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương trên cơ thể xơ gan
  • + Tại Kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 01 tháng 02 năm 2024, Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:
    1. Đ va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt và má trái lốp trước, cạnh bên trái vành trước, tương ứng hàng chữ “LOAD RANGER”; xe moto biển kiểm soát 36H5-060.07 với mặt trước dưới bên trái ba- đờ-xốc của xe oto
    2. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (2), (3) thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc khoảng giữa đường; không đủ cơ sở xác định vị trí cụ thể.
  • + Tại bản Kết luận giám định số 407/KL-KTHS ngày 26 tháng 01 năm 2024, V - Bộ C1 kết luận: Hệ thống phanh của xe oto biển kiểm soát 36B1-02351 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn đảm bảo an toàn kĩ thuật

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tiến hành khám nghiệm đối với 02 phương tiện là xe gắn máy và oto nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/HĐĐGTS ngày 15/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Q kết luận:

  • + 01 Xe moto biển kiểm soát 36H5-067.07, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX mang tên Hà Văn N2 bị hư hỏng các bộ phận, phụ tùng có giá trị thiệt hại bằng tiền là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng);
  • + 01 Xe oto biển kiểm soát 36B-023.51, nhãn hiệu HYUNDAI mang tên Nguyễn Đình T2 bị hư hỏng các bộ phận, phụ tùng có giá trị thiệt hại bằng tiền là 8.300.000đ (tám triệu ba trăm nghìn đồng)

Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là: 11.800.000đ (mười một triệu tám trăm nghìn đồng)

Những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về các Kết luận giám định, Kết luận định giá.

Ngày 16/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn C

Trong giai đoạn truy tố và chuẩn bị xét xử, bị cáo giao nộp bổ sung các tài liệu gồm: 01 Đơn xin hưởng án treo (có xác nhận của UBND Thị trấn T)

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi điều khiển xe oto đi lấn sang phần đường ngược chiều dẫn đến đâm va vào xe moto do ông Hà Văn N điều khiển ngược chiều, làm ông N tử vong. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Người đại diện theo pháp luật (con trai) của bị hại là anh Hà Văn N1 có ý kiến: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh tổng số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Gia đình anh không còn ý kiến gì về vấn đề bồi thường dân sự, có đơn đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình T1, anh Hà Văn N2 trình bày: Anh Lê Đình T1 là chủ sở hữu xe oto biển kiểm soát 36B-02351, chiếc xe này anh cho Công ty TNHH H2 thuê để đưa đón khách và Công ty H2 giao lại cho bị cáo là người lái xe. Anh N2 là chủ sở hữu chiếc moto biển kiểm soát 36H5-06070. Việc ông N lấy xe anh không biết và không liên quan. Anh T1, anh N2 đều đã được Cơ quan điều tra trả lại xe và các loại giấy tờ, tài liệu liên quan và không có ý kiến gì.

Vật chứng của vụ án gồm có: 01 xe oto biển kiểm soát 36B-02351, 01 xe moto biển kiểm soát 36H5-06070 và các giấy tờ liên quan. Các vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q trả lại cho các chủ sở hữu.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT- VKS- QH ngày 27/05/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 BLTTHS; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử phạt bị cáo 18 đến 22 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 đến 44 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng), người đại diện của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có ý kiến gì.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tram truy tố đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định, Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình; đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Như vậy, bị cáo đã có hành vi chuyển làn đường không đúng quy định, không đảm bảo an toàn. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến ông Hà Văn N tử vong là đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định tội “Làm chết người” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ; gây tai nạn làm chết người. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

  • + Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) cho gia đình bị hại. Ngoài ra, đại diện bị hại cũng có đơn, đại diện chính quyền địa phương cũng có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
  • + Đối với hành vi của bị hại ông Hà Văn N: Ông Hà Văn N điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn cao hơn nhiều lần mức nồng độ cồn cho phép (B1 41) và không đội mũ bảo hiểm. Người làm chứng chị Đào Thị H1 cũng khai: “...nhìn thấy một người đàn ông (ông N) ...đi loạng choạng từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải...” – Bút lục 132. Như vậy, bị hại ông Hà Văn N cũng có lỗi là nguyên nhân dẫn đến tai nạn; thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ các quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS; HĐXX xét thấy cần áp dụng một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhưng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn, còn phải chăm sóc, phụng dưỡng mẹ già yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS

[7] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS; Hội đồng xét xử quyết định hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo, kể từ ngày tuyên án

[8] Về bồi thường dân sự:

  • + Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện bị hại không có ý kiến gì thêm nên HĐXX không xem xét;
  • + Đối với giá trị thiệt hại, hư hỏng của 02 chiếc xe máy tương đương 11.800.000đ (mười một triệu tám trăm nghìn đồng): Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[9] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với thiệt hại của 02 chiếc xe theo kết quả định giá là 11.800.000đ (mười một triệu tám trăm nghìn đồng); chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

[10] Về xử lý vật chứng: 01 xe máy, 01 xe moto đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 50 BLHS 2015; Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 BLTTHS; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố: bị cáo Lê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Xử phạt: bị cáo Lê Văn C 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn C cho Ủy ban nhân dân Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện của bị hại vắng mặt có lý do. Bị cáo, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm ngày); kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện của bị hại;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Quan Hóa;
  • - Cơ quan THAHS- CA huyện Quan Hóa;
  • - UBND Thị trấn Tân Phong, Quảng Xương;
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vi Ngọc Trung

Nguyễn Văn Mừng

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Cường phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger