|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 07/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thế Bình
Bà Phạm Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Trần Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 30/2024/QĐXX-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn B, Sinh năm: 1977. Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Phạm Văn T1, Sinh năm 1937. Con bà: Vũ Thị S, Sinh năm 1941. Có vợ: Phạm Thị P, Sinh năm 1980. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất, sinh năm 2001.
Tiền án: Ngày 08/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “ Hủy hoại tài sản”
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 26/07/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc.
Ngày 18/01/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966,
Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
(Anh D vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Ngọc T2, sinh năm: 1979
Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Anh Lưu Văn T3, sinh năm: 1970
Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên tòa, anh T2, anh T3 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 08/6/2021, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Nam Trực xử phạt 30 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” do có hành vi đốt cháy xe mô tô của anh Nguyễn Văn G con ông Nguyễn Văn D. Ngày 28/4/2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Do vẫn bức xúc về việc phải đi tù nên bị cáo luôn suy nghĩ khi gặp ông D hoặc anh G ở đâu sẽ đánh. Khoảng 19 giờ ngày 06/02/2024, sau khi ngồi uống bia tại quán nhà bà Đới Thị V, trên đường đi về bị cáo nhìn thấy anh Lưu Văn T3 điều khiển xe mô tô chở ông D đi qua. Bực tức vì chuyện cũ, bị cáo liền chạy đến nhà anh T3 (nhà giết lợn, cách quán nhà bà V khoảng 30 mét) lấy 01 con dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, chiều rộng bản dao nơi rộng nhất là 6cm chạy về phía nhà anh Phạm Văn T4, trú tại xóm A, xã N, huyện N (cửa hàng bán đồ dân dụng) thì lúc này cả anh T3 và ông D đang đứng trước cửa quán. Bị cáo chạy đến chỗ ông D, vừa chạy vừa chửi “Thằng chó đây rồi” đồng thời cầm dao định chém ông D thì anh T3 ngăn cản, giằng lấy dao bầu từ tay của bị cáo, ông D sợ hãi chạy vào phía trong nhà anh Đ. Lúc này, bị cáo tiếp tục chạy sang nhà anh Lê Ngọc T2 (làm nghề quay vịt, ngay cạnh nhà anh Đ). Bị cáo quan sát thấy trên mặt bàn chặt vịt có 01 con dao phay, lưỡi dao dài 23cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, bị cáo liền chạy đến cầm dao rồi chạy vào phòng khách nhà anh Đ để chém ông D. Bị cáo lao đến vị trí ông D đứng, lúc này ông D quay mặt hướng ra đường, đứng đối diện, bị cáo dùng tay trái giữ tay phải của ông D, tay phải bị cáo cầm dao dơ lên chém về phía ông D, ông D liền cúi đầu tránh thì lưỡi dao chém vào vành tai trái của ông D gây thương tích. Lúc này, mọi người chạy đến can ngăn, ông D cũng vùng tay thoát khỏi tay bị cáo. Sau khi ông D chạy thoát, bị cáo đi bộ về nhà. Hậu quả: ông Nguyễn Văn D bị 01 vết thương cực trên vành tai trái kéo dài ra phía sau khoảng 5cm, bờ gọn, hở sụn.
Ngày 07/02/2024, ông Nguyễn Văn D có đơn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Văn B và đề nghị xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 24/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 07/02/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y Sở Y kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định là 02%, rách da do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ của anh Lưu Văn T3 01 con dao dạng dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, bản dao nơi rộng nhất là 6cm và thu của anh Lê Ngọc T2 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm. Đối với vật chứng này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục thi hành dân sự huyện N để xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn D không yêu cầu Phạm Văn B phải bồi thường về dân sự.
Cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị Phạm Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Văn B từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Lưu Văn T3 01 con dao dạng dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, bản dao nơi rộng nhất là 6cm. Trả lại cho anh Lê Ngọc T2 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm có đặc điểm như biên bản thu giữ đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/02/2024; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 24 ngày 07/02/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H; Biên bản ghi lời khai của anh Nguyễn Văn D, anh Lê Ngọc T2, anh Lưu Văn T3.... Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 06/02/2024, tại nhà anh Phạm Văn Đ1 ở xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo bức xúc về việc mình đốt xe mô tô của con ông Nguyễn Văn D nên phải đi tù. Do đó, bị cáo Phạm Văn B đã dùng 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm chém vào vành tai trái của ông D làm ông D bị thương với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 2%. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi mình thực hiện là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do bị cáo dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tích chất côn đồ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án về tội “Huỷ hoại tài sản” chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dạng dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, bản dao nơi rộng nhất là 6cm của anh Lưu Văn T3 và 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm của anh Lê Ngọc T2. Tuy là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng anh T3, anh T2 không biết việc bị cáo dùng tài sản của mình vào việc phạm tội. Cả anh T3 và anh T2 đều đề nghị được trả lại dao cho mình. Vì vậy, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Lưu Văn T3 01 con dao dạng dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, bản dao nơi rộng nhất là 6cm. Trả lại cho anh Lê Ngọc T2 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông D, anh T3, anh T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Lưu Văn T3 01 con dao dạng dao bầu, mũi dao nhọn, chiều dài 20cm, cán gỗ dài 12cm, bản dao nơi rộng nhất là 6cm. Trả lại cho anh Lê Ngọc T2 01 con dao dạng dao phay, lưỡi dao dài 23 cm, bản rộng 8cm, cán dao bằng gỗ dài có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/04/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nam Trực.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông D, anh T3, anh T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội "cố ý gây thương tích"
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn B- Cố ý gây thương tích
