|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 07-5-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Sơn
- Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Sử Khắc T (Mèo), sinh năm 1982, tại An Giang; Nơi cư trú: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sử Khắc H, sinh năm 1961 và bà Trần Thị K, sinh năm: 1961; bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ hai trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1983, con có hai người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014;
Nhân thân: Ngày 12/01/2021, bị Công an xã V, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo đã nộp phạt.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2023, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Võ Văn M, Văn phòng luật sư Hồ Hoàng P – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A
Địa chỉ: số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Văn D, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Phạm Văn L, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Phạm Văn Linh E, sinh năm 1999 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Huỳnh Văn M1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. - Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Huỳnh Thái P1, sinh năm 1999 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Phạm Thị Mỹ T2, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang - Nguyễn Văn L1, sinh năm 1992 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang - Nguyễn Hữu N, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang - Trịnh Vương L2, sinh năm 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. - Trương Vĩnh hiệp, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang - Ngô Quốc D1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Lưu Hoàng P2, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- Sử Yến L3, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang - Đặng Duy K1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
* Người làm chứng: ông Trần Văn N1, ông Trần Văn K2 (vắng mặt)
* Người chứng kiến: ông Cao Thanh H1 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 24/10/2023, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy Công an tỉnh A kết hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C kiểm tra, bắt quả tang bên trong dưới yên xe mô tô biển số 67H8 - 6152 của Sử Khắc T cất giấu 01 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín, bên trong nghi chứa ma túy tổng hợp, khi S KhắcTa đang điều khiển đến quán ăn Buffer 139K của em ruột tên Sử Yến L4, thuộc ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và mời Sử Khắc T về làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 05 năm 2023, Sử Khắc T bán ma túy tổng hợp cho các đối tượng nghiện trên địa bàn xã C, V, huyện C, tỉnh An Giang, gồm có: Phạm Văn D, Phạm Văn L, Phạm Văn Linh E, Huỳnh Văn M1, cùng nơi cư trú ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; Nguyễn Văn T1, Huỳnh Thái P1, cùng cư trú ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Trương Vĩnh H2, cư trú ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Trịnh Vương L2, cư trú khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; Nguyễn Hữu N, cư trú ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Ngô Quốc D1, Lưu Hoàng P2, cư trú ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- - 01 xe mô tô biển số 67H8 - 6152 màu đỏ, đã qua sử dụng, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 20/8/2002.
- - Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng.
- - 01 nón bảo hiểm màu bạc.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng, có gắn sim số 0979718511, đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh đen, có gắn sim số 0763957310, đã qua sử dụng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 202/KL-KTHS(MT-GT) ngày 31/10/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1408 gam.
Ngày 01/11/2023, Sử Khắc T bị khởi tố điều tra.
Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Sử Khắc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra bị cáo Sử Khắc T không thừa nhận hành vi phạm tội, khai không quen biết, giao dịch với các đối tượng mua ma túy; đoạn ma túy bị bắt quả tang dưới yên xe mô tô biển số 67H8 - 6152 không phải của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Người chứng kiến và người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn D, Phạm Văn L, Phạm Văn Linh E, Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn M1, Huỳnh Thái P1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu N, Trịnh Vương L2, Trương Vĩnh H2, Ngô Quốc D1, Lưu Hoàng P2 trình bày nhiều lần mua ma túy của Sử Khắc T về sử dụng, trong đó nhiều nhất là Nguyễn Văn T1, Huỳnh Thái P1 và Lưu Hoàng P2 đều mua của Sử Khắc T 05 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng về sử dụng, lời khai nhận của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sử Y, Đặng Duy K1, Nguyễn Thị Thúy A, Phạm Thị Mỹ T2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Sử Khắc T mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 24/10/2023); đề nghị xử phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Trần Thiện T3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,1232 gam; 01 nón bảo hiểm.
- - Giao cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp luật 01 xe mô tô biển số 67H8-6152 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cấp ngày 20/8/2002.
- - Trả lại cho bị cáo số tiền 3.000.000 đồng;
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng, có gắn sim số 0979718511, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh đen, có gắn sim số 0763957310, đã qua sử dụng.
Người bào chữa cho bị cáo luật sư Võ Văn M trình bày quan điểm bào chữa: thống nhất với nội dung luận tội của Viện kiểm sát về nội dung và khung hình phạt áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân của bị cáo, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 06 năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sử Y có mặt, Nguyễn Văn L1, Phạm Văn Linh E, Huỳnh Thái P1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo khai không quen biết và không giao dịch với các đối tượng mua ma túy, bị cáo không thừa nhận lượng ma túy cất giấu dưới yên xe mô tô biển số 67H8-6152 là của bị cáo, tuy nhiên qua điều tra xác minh các đối tượng mua ma túy sử dụng đều khai nhận mua ma túy từ bị cáo, những người này đều nhận dạng được người bán ma túy là bị cáo, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Sử Khắc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, là mầm móng của các tội phạm khác. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài ra bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích để thu lợi bất chính nên cần áp dụng mức hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế lại phải nuôi cha mẹ mẹ già bị bệnh. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là 01 phong bì được niêm phong, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,1232 gam. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu, tiêu hủy. Đối với nón bảo hiểm là tài sản của bị cáo, không còn giá trị sử dung, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là 01 xe mô tô biển số 67H8-6152 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cấp ngày 20/8/2002. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, chưa xác định được chủ sở hữu, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp.
- Đối với vật chứng là số tiền 3.000.000 đồng, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, do đó Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, có gắn sim số 0979718511, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh đen, bên trong có gắn sim số 0763957310, đã qua sử dụng, đây là phương tiện liên lạc bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[6] Bị cáo Sử Khắc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Sử Khắc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Sử Khắc T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 24/10/2023).
- - Phạt tiền bị cáo Sử Khắc T 5.000.000 (năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Trần Thiện T3, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,1232 gam và 01 nón bảo hiểm.
- Giao cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp 01 xe mô tô biển số 67H8-6152, số máy 000877, số khung 000877 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cấp ngày 20/8/2002.
- Trả lại cho bị cáo Sử Khắc T số tiền 3.000.000 đồng.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 8676523040742918, số IMEI 2: 867652040742900 có gắn sim số 0979718511, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, số IMEI 1: 354493091649664, số IMEI 2: 354493094149662 bên trong có gắn sim số 0763957310, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS-HS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Sử Khắc T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo : Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (07/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
