TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Túc
- - Thẩm phán: Bà Hoàng Ngọc Liễu
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Quách Minh Nhiên
- Bà Nguyễn Thị Nhung
- Bà Phan Thị Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
CHOI DONG GWAN, sinh năm 1960 tại Hàn Quốc; Nơi ở hiện tại: Số: 35 khu liền kề B - T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Nguyên Phó Giám đốc của Công ty Q2; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Hàn Quốc; Số hộ chiếu: M06459309 cấp ngày 18/7/2017 tại Hà Nội. Con ông Choi Hung L, con bà Jang Mun H. Bị cáo có vợ là Shin Hyon J, có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Được trích xuất, có mặt.
- Những người bị hại, được triệu tập đều vắng mặt:
- Anh Khà Văn Đ, sinh năm 1984; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Hà Văn Q, sinh năm 1984; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Vì Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Hà Hải Đ1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Lục Anh D, sinh năm 1991; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Hà Mạnh L1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Pom Coọng, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
- Anh Hà Văn D1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Pom Coọng, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
- Anh Hà Văn G, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Pom Coọng, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
- Anh Vì Văn T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Hà Văn L2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Hà Đức T2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Lường Văn S, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm P, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Lê Đình L3, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình
- Chị Khà Thu H1, sinh năm 2003; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Nguyễn Tiến B, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Xóm S, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình
- Anh Lương Trung H2, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Khà Văn C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm N, xã N, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Khà Văn H3, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tiểu khi 3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Vì Thị Q1, sinh năm 1979; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Hà Thị H4, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Ke Văn T3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Xã P, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Chị Khà Thị D2, sinh năm 1992; Nơi cư trú: P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Lục Thị N, sinh năm 1988; Nơi cư trú: xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Lò Thị T4, sinh năm 1991; Nơi cư trú: C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
Người có quyền lợi có liên quan:Anh Choi Sung M, sinh ngày 05/5/1990(Con trai bị cáo), số hộ chiếu: M790C9502; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Dũng T5 - Văn phòng Luật sư Trần Dũng T5, Đoàn Luật sư tỉnh H; Có mặt.
Người phiên dịch: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ C, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Choi D, sinh năm 1960, quốc tịch Hàn Quốc (Nguyên quán tại In C, Hàn Quốc) và sang Việt Nam sinh sống, làm việc từ năm 2004 (nguyên là Phó giám đốc Công ty Q2 Co.LTD chuyên về lĩnh vực may mặc trang phục có trụ sở tại phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc). Từ năm 2004, Choi D quen biết và có mối quan hệ thân thiết với gia đình anh Khà Văn Đ. Từ cuối năm 2019 đến năm 2023, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên Choi Dong Gwan gặp khó khăn về kinh tế, nợ tiền nhà và tiền sinh hoạt. Đến năm 2023, biết anh Đ và nhiều người khác có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, do đó, Choi D đã nảy sinh ý định thu tiền đưa đi xuất khẩu lao động của những người này để chiếm đoạt chi tiêu sử dụng vào mục đích cá nhân.
Tháng 08/2023, Choi Dong G1 đưa ra thông tin với anh Khà Văn Đ và một số người là đang cần một đội khoảng 30 người, độ tuổi từ 22 đến 50 sang Hàn Quốc làm bảo vệ công ty M2 tại Hàn Quốc, mức lương mỗi tháng khoảng 50.000.000₫ đến 60.000.000đ/ 1 người. Đồng thời, Choi Dong G1 nói với anh Khà Văn Đ mức chi phí phải nộp của một người sang Hàn Quốc làm việc là từ 2.500 USD (tương đương 70.000.000đ) trở lên; còn nếu là lao động tỉnh khác có nhu cầu đi sẽ phải nộp cho C1 Dong Gwan mức chi phí lo sang Hàn Quốc lao động là 7.000 USD (tương đương 171.000.000đ); hàng tháng trừ đi 10% phí ăn ở tại Hàn Quốc; các thủ tục đưa người sang Hàn Quốc lao động sẽ do Choi Dong G1 lo toàn bộ thủ tục để đưa được công dân sang Hàn Quốc lao động như: Ký hợp đồng lao động, Visa dạng lao động thời gian làm việc từ 03 đến 06 năm tùy theo hợp đồng của từng người, tiền vé máy bay, lo nơi ở bên Hàn Quốc thì đăng ký nộp tiền cho anh Khà Văn Đ.
Với thủ đoạn như trên trong thời gian từ tháng 09/2023 đến tháng 01/2024, Choi Dong G1 đã chiếm đoạt số tiền 907.000.000đ của 25 công dân Việt Nam. Cụ thể như sau:
1.Chiếm đoạt của anh Khà Văn Đ số tiền 15.000.000 đồng:
Do có mối quan hệ thân thiết với Choi D từ lâu, nên sau khi nghe Choi Dong Gwan nói và hứa hẹn, anh Khà Văn Đ đã tin tưởng và nộp số tiền 15.000.000 đồng cho C1 Dong Gwan để bản thân được đi Hàn Quốc lao động.
2. Chiếm đoạt của 21 công dân khác tổng số tiền 732.000.000 đồng; Cụ thể:
Có 10 công dân là thân nhân của anh Khà Văn Đ gồm các ông, bà: Hà Văn Q, Vì V, Hà H, Lục Anh D, Hà Mạnh L1, Hà Văn D1, Hà Văn G, Vì Văn T1, Hà Văn L2, Hà Đức T2, đều cư trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Những người này đều quen biết Choi Dong G1 từ lâu và được gặp, nghe Choi Dong Gwan nói về các nội dung như đã nói với anh Khà Văn Đ. Đối với những người này, Choi Dong G1 còn nói coi họ là thân nhân nên sẽ hỗ trợ một phần chi phí, chỉ phải nộp tổng chi phí là 75.000.000đồng và nộp trước cho C1 Dong Gwan số tiền 15.000.000 đồng/người, còn lại khi sang Hàn Quốc lao động sẽ trừ dần vào lương.
Choi Dong G1 còn nói với các công dân là thân nhân, họ hàng của Khà Văn Đ về việc nếu ai có nhu cầu sang Hàn Quốc lao động muốn đăng ký, nộp tiền chi phí lo việc xuất khẩu sang Hàn Quốc lao động cho C4 nói lên 10 công dân này đã đến gặp, mỗi người đưa 15.000.000 đồng cho Khà Văn Đ với tổng số tiền 150.000.000 đồng để nhờ anh Đ lập danh sách đăng ký, chuyển tiền cho Choi Dong G1 làm thủ tục đi Hàn Quốc xuất khẩu lao động theo như lời Choi D nói.
Ngoài ra còn có: 11 công dân là hàng xóm, người quen biết của gia đình, thân nhân anh Khà Văn Đ gồm các ông, bà: Lường Văn S, Lê Đình L3, Khà Thu H1, Nguyễn Tiến B, Lường Trung H6, Khà Văn C, Khà Văn H3, Vì Thị Q1, Hà Thị H4, Ke Văn T3, Nguyễn Thị H5 đều cư trú tại huyện M, tỉnh Hòa Bình, biết thông tin nên tự đến gặp Khà Văn Đ nhờ Đ đăng ký đi làm việc tại Hàn Quốc, mỗi người đưa từ 48.000.000₫ đến 100.000.000đ cho anh Khà Văn Đ với tổng số tiền 582.000.000đ để được đi Hàn Quốc xuất khẩu lao động.
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9 đến tháng 12 năm 2023, anh Khà Văn Đ đã nhận tổng số tiền 747.000.000 đồng (Bao gồm 15.000.000 đồng của anh Đ và tiền mà 21 công dân đã nộp). Sau khi nhận được số tiền trên, anh Đ đã chuyển toàn bộ cho Choi Dong G1. Cụ thể, anh Khà Văn Đ đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản số [...] mang tên Choi Dong G1, mở tại ngân hàng TNHH MTV W tổng số tiền 678.400.000 đồng (Các lần chuyển tiền là theo yêu cầu của Choi Dong G1) và đưa tiền mặt cho C1 Dong Gwan tổng số tiền 63.000.000 đồng (trong đó anh Đ nhờ chị Hà Thị V là vợ anh Đ đưa số tiền 48.000.000 đồng cho anh Hoàng Bằng G2, sinh năm 1983, trú tại Sông L, Vĩnh Phúc là người lái xe Taxi được Choi D nhờ nhận tiền cho Choi Dong G1 và anh Đ trực tiếp đưa 15.000.000 đồng cho Choi Dong G1); còn lại số tiền 5.600.000 đồng anh Khà Văn Đ đã chi trả tiền xe, tiền ăn, nghỉ cho C1 Dong Gwan khi Choi D đến M, Hòa Bình.
3. Chiếm đoạt số tiền 160.000.000 đồng của 03 công dân:
Chị Khà Thị D2, sinh năm 1992, trú tại P, thị trấn M, M, Hòa Bình và chị Lục Thị N, sinh năm 1988, trú tại V, M, Hòa Bình là chị em dâu (D2 lấy em trai ruột của Như). Qúa trình sinh sống tại M, chị D2 và chị N có gặp, biết Choi Dong G1 là người quen thân với gia đình anh Khà Văn Đ. Tháng 9/2023, chị D2 và chị N biết được thông tin Choi Dong G1 đang tuyển người có nhu cầu xuất khẩu sang Hàn Quốc lao động. Tháng 10/2023, khi Choi Dong G1 lên nhà anh Khà Văn Đ tại M thì chị D2 và chị N đã đến gặp Choi Dong G1 để hỏi về việc Choi Dong G1 tuyển người sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động và được Choi Dong G1 đưa ra các thông tin như đã nói với mọi người.
Do đã quen biết Choi Dong G1 và đồng ý với chi phí xuất khẩu lao động 160.000.000 đồng/01 người, nộp trước ít nhất 48.000.000 đồng/01 người. Sau đó, chị D2 và Lò Thị T4, sinh năm 1991, trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã nhiều lần đưa tiền cho chị Khà Thị D2 để D2 chuyển cho C1 Dong Gwan theo yêu cầu. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 01/2024, chị D2 đã nhiều lần chuyển vào tài khoản số 1003040006187 mang tên Choi Dong G1 mở tại Ngân hàng W1 tổng số tiền 160.000.000 đồng (trong đố 60.000.000 đồng của chị N, chị D2 và chị T4 mỗi người 50.000.000 đồng) để đăng ký được đi Hàn Quốc xuất khẩu lao động cho Như, D2 và chị Lò Thị T4 với Choi Dong G1.
Sau khi chiếm đoạt được số tiền 907.000.000 đồng của 25 công dân Việt Nam, Choi Dong G1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do Choi Dong Gwan liên tục giục người dân chuyển tiền nhưng lại không thực hiện các thủ tục để đưa người dân đi xuất khẩu lao động như đã nói nên một số người dân đã nhờ người thân sinh sống bên Hàn Quốc kiểm tra thông tin thì phát hiện tại Hàn Quốc không có Công ty G3-HDS có địa chỉ như Choi Dong G1 nói. Ngày 26/01/2024, anh Khà Văn Đ và 24 công dân đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc trên. Cùng ngày, Choi Dong G1 đã đến Cơ quan Công an đầu thú.
Ngày 01/02/2024, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh H văn bản số 252/LĐTBXH-LĐVL gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra PC01 Công an tỉnh H với nội dung: “Hiện nay tỉnh Hòa Bình chưa ký kết bản ghi nhớ (MOU) nào với địa phương của Hàn Quốc để đưa lao động tỉnh Hòa Bình tỉnh Hòa Bình đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc”; “Không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan, tổ chức hợp pháp ủy quyền, cử đối tượng Choi Dong G1 làm đại diện liên hệ với Sở L4 để làm thủ tục thực hiện việc đưa công dân cư trú trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đi Hàn Quốc làm việc”; “trường hợp đối tượng Choi Dong G1 thực hiện việc đưa công dân cư trú trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đi Hàn Quốc lao động, đã nhận tiền của các công dân là vi phạm hành vi nghiêm cấm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Điều 7, Luật số 69/2020/QH14 ngày 13/11/2020 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam”.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tiến hành thu giữ:
01 (Một) điện thoại và 01(Một) máy tính xách tay. Các vật chứng này được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình để xử lý theo quy định.
02 (Hai) đĩa DVD bên trong có chứa dữ liệu là các file ảnh chụp tin nhắn tài khoản Zalo của Choi Dong G1 với anh Khà Văn Đ và các công dân khác. Các vật chứng này được chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định.
Đối với số tiền 907.000.000 đồng do con trai ruột của bị cáo Choi Dong G1 là anh Choi Sung M1, sinh năm 1990, quốc tịch Hàn Quốc, số hộ chiếu M790C9502 đã đại diện gia đình đến Cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp tổng số tiền để khắc phục hậu quả hành vi phạm tội của Choi Dong G1.
Ngày 09/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh H ra quyết định số 596/QĐ-VPCQCSĐT trả lại số tiền 907.000.000 đồng cho 25 công dân.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-P2 ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Choi Dong G1 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a Khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Choi Dong G1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt Choi Dong G1 từ 10 đến 11 năm tù;
Về xử lý vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận mà đề nghị luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận với kiểm sát viên.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Choi Dong G1 Nhất trí về tội danh và điều luật các tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố, đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo; Do bị cáo là người nước ngoài, H7 còn hạn chế, Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát mới phù hợp.
Trình bày lời nói sau cùng bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an tỉnh H của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Căn cứ vào các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Choi Dong G1 đã lợi dụng mối quan hệ và sự tin tưởng của anh Khà Văn Đ và các bị hại khác để chiếm đoạt tài sản của họ trái pháp luật. Bản thân bị cáo là người không có chức năng, nhiệm vụ, điều kiện để tuyển dụng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nhưng bị cáo đã đưa ra những thông tin gian dối như, có người thân làm trong công ty M2 bên Hàn Quốc đang chuẩn bị tuyển công nhân là những lao động ở Việt Nam, bị cáo tự đưa ra mức tiền, chi phí cho người đi xuất khẩu lao động làm bảo vệ, và làm công nhân với mức lương cao, toàn bộ thủ tục do bị cáo sẽ chịu trách nhiệm, ai muốn đi thì nộp tiền đặt cọc cho bị cáo thông qua Khà Văn Đ và Lục Thị N là người quen của bị cáo để thu tiền hộ. Do các bị hại đều không có việc làm, thu nhập không ổn định, mong muốn được đi lao động nước ngoài kiếm thêm thu nhập cho bản thân và gia đình, nên tin tưởng vào lời nói của bị cáo. Bị cáo thực hiện thu tiền 3 lần với 25 người đã nộp tổng số tiền 907.000.000đ, sau khi chiếm đoạt số tiền trên bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo đã hội đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Choi Dong G1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Choi Dong G1 thực hiện hành vi phạm tội với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, tài sản chiếm đoạt rất lớn, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, được pháp luật bảo vệ bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc bản thân không có chức năng thẩm quyền đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nhưng do muốn có tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của cá bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Choi Dong G1 đã nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình, chủ động tác động người thân trong gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho 25 bị hại số tiền là 907.000.000 đồng. Đến nay, các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Choi Dong G1, đây là tiết tiết cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Choi Dong G1 thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhiều lần của nhiều người, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tự giác đến cơ quan Công an đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình để thay mình tự nguyện đền bù, khắc phục hậu quả cho các bị hại và các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo,C2 áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, là phù hợp. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
Xét thấy bị cáo là người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, hiện tại không có việc làm, thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 907.000.000đ (Chín trăm linh bảy triệu đồng) cho những người bị hại, đến nay các bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì khác; Nên không đề cập trách nhiệm bồi thường của bị cáo trong vụ án.
[6]. Các vấn đề khác:
Đối với anh Khà Văn Đ và chị Lục Thị N, quá trình điều tra xác định anh Đ và chị N cũng đều là người nộp tiền cho Choi Dong G1 để xin đi xuất khẩu lao động; cả hai chỉ truyền đạt thông tin cho Choi Dong G1 nói đến các công dân; sau khi nhận tiền từ các công dân đã chuyển toàn bộ cho C4; anh Đ, chị N không được bàn bạc cũng như không được hưởng lợi ích nên không đồng phạm với Choi Dong G1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với chị Hà Thị V (vợ anh Khà Văn Đ), quá trình điều tra xác định, chị V là người được Khà Văn Đ nhờ chuyển tiền của các công dân đã nộp cho Choi Dong G1; không được bàn bạc, cũng như không được hưởng lợi gì nên không đồng phạm với Choi Dong G1. Do đó, Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với anh Hoàng Bằng G2, quá trình điều tra xác định anh G2 là lái xe taxi được C1 Dong Gwan thuê chở lên M, sau đó Choi Dong G1 nhờ anh G2 lấy tiền từ chị Hà Thị V và đưa lại cho Choi Dong G1; anh G2 không biết, không được bàn bạc cũng như hưởng lợi từ Choi D. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với đơn của ông Nguyễn Xuân C3, sinh năm 1961 trú tại số D, ngõ A N, H, T, Hà Nội về việc đề nghị giải quyết việc Choi Dong G1 vay tiền ông. Việc vay tiền không liên quan tới vụ án nên không đề cập xử lý trong vụ án này. Trách nhiệm dân sự:
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10 Lite, và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu LG, màu đen; Qua kiểm tra dữ liệu các thiết bị trên máy, thấy bị cáo đã sử dụng các thiết bị trên vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
[8] .Về án phí: Bị cáo Choi Dong G1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo định.
[9] .Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Choi Dong G1 phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Choi Dong Gwan 09(Chín) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu phát mại sung vào ngân sách đối với: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10 lite, màu bạc đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu LG. màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Choi D.
Vật chứng có trong 01 hộp niêm phong màu xanh, được niêm phong bằng bốn giải giấy màu trắng dán trên bề mặt hộp. Trên giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ niêm phong của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng số38/BB-GNVC, ngày 05/8/2024, giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hòa Bìn).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Choi Dong G1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Vũ Văn Túc |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự sơ thẩm
