TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/DS-ST
Ngày: 06 - 8 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và ông Mai Đức Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Hiếu, kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 01/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C (V);
Địa chỉ: Số A đường T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thế M - Chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh; ông Nguyễn Trung T - Phó phòng tổng hợp; ông Nguyễn Hữu T1 - Nhân viên phòng tổng hợp, cùng địa chỉ: Số E L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình (Theo Văn bản ủy quyền số 015/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 05/01/2024), ông T1 có mặt;
Bị đơn: Ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 17/5/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày:
Ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N vay vốn tại V - Chi nhánh Q - phòng Giao dịch huyện Q, theo Hợp đồng số [...]/2023-HĐCV/NHCT470 ngày 11/05/2023 (Viết tắt là HĐTD số 667), cụ thể: Tổng số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm triệu đồng chẵn); Phương thức cho vay: Thấu chi. Thời hạn cho vay: 12 tháng. Mục đích vay: Tiêu dùng. Lãi suất cho vay: Tại thời điểm ký kết hợp đồng là 10,5%/năm.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N đã sử dụng thấu chi tổng số tiền: 1.499.965.996 đồng (Một tỷ, bốn trăm chín mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Quá trình trả nợ: ông P và bà N đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 96.655.523 đồng (Chín mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm hai mươi ba đồng). Trong đó: Gốc 34.004 đồng, lãi 96.621.519 đồng. Đến ngày 22/01/2024, ông P, bà N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay. Toàn bộ khoản nợ vay đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 22/01/2024.
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N, nhưng ông, bà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Ngoài ra, ông Trương Quang P còn ký kết Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tài chính cá nhân số 3018955631 (Hợp đồng Thẻ TCCN) ngày 14/07/2023 với V - Chi nhánh Q, hạn mức Thẻ TCCN: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn). Đến ngày 22/01/2024, khoản vay của ông Trương Quang P đến hạn lãi, ông P bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Toàn bộ khoản nợ này đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 22/01/2024. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông Trương Quang P, nhưng ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của các HĐTD số 667 và Hợp đồng Thẻ TCCN, ông Trương Quang P đã ký kết Hợp đồng thế chấp số [...]-CX482142/2020/HDBD/C470, ngày 05/10/2020 (Viết tắt là HĐTC số 009) tại V - Chi nhánh Q - phòng G và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS/NHCT470, ngày 06/07/2022 (Viết tắt là HĐSĐBSHĐTC) tại V - Chi nhánh Q - phòng G. Theo đó, tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của hai khoản vay trên là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa số: 476 Tờ bản đồ số: 09; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX482142, số vào số cấp GCN: CS03146 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 18/08/2020 mang tên ông Trương Quang P.
Ngân hàng đã thường xuyên liên lạc đôn đốc, gửi thông báo yêu cầu khách hàng trả nợ, ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N rất có thiện chí phối hợp với Ngân hàng tìm mọi biện pháp để trả nợ vay, nhưng ông P và bà N gặp nhiều khó khăn, không thể thu xếp được nguồn trả nợ. Vì vậy, V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán ngay cho N1 đến ngày 06/8/2024 với tổng số tiền còn nợ Ngân hàng là 1.608.729.619 đồng (Một tỷ, sáu trăm linh tám triệu, bảy trăm hai mươi chín nghìn, sáu trăm mười chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.499.965.996 đồng. Nợ lãi trong hạn: 13.839.247 đồng. Nợ lãi quá hạn: 94.924.376 đồng; theo HĐTD số 667 ngày 11/05/2023.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày 06/8/2024, ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh theo theo HĐTD số 667 ngày 11/05/2023.
Trong trường hợp ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên thì V được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-CX482142/2020/HĐBĐ/NHCT470, ngày 05/10/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS /NHCT470, ngày 30/6/2023 để thu hồi nợ vay.
Sau khi xử lý hết Tài Sản Bảo Đảm nêu trên mà vẫn không thu đủ nợ cho Ngân hàng thì ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ và Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế, kê biên phát mại các tài sản khác của ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N để thu hồi toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng.
- Buộc ông Trương Quang P có nghĩa vụ thanh toán ngay cho N1 đến ngày 06/08/2024 với tổng số tiền còn nợ là 102.655.350 đồng (Một trăm lẻ hai triệu, sáu trăm năm mươi lăm nhìn, ba trăm năm mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 94.901.935 đồng; Nợ lãi trong hạn: 6.117.675 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.635.740 đồng; theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày 06/8/2024, ông Trương Quang P còn phải thanh toán các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; phí và lệ phí liên quan (nếu có).
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà N có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023 do ông P ký kết với Ngân hàng; và rút yêu cầu trong trường hợp ông P không trả được nợ theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023 thì V được xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-CX482142/2020/HĐBĐ/NHCT470, ngày 05/10/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS /NHCT470, ngày 30/6/2023 để thu hồi nợ vay.
Về phía bị đơn ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N trình bày tại bản tự khai ngày 11/4/2024 như sau: ông, bà thừa nhận có vay V – Chi nhánh Q – phòng G theo HĐTD số 667 như phía Ngân hàng đã trình bày. Để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng tín dụng trên, ông P đã ký kết Hợp đồng thế chấp số HĐTC số 009 và HĐSĐBSHĐTC, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 476 Tờ bản đồ số: 9; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX482142, số vào sổ cấp GCN: CS03146 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 18/08/2020 mang tên ông Trương Quang P. Ông, bà đề nghị phía khoanh nợ thêm 06 tháng, nếu sau 06 tháng vợ chồng ông, bà vẫn không trả được nợ thì chấp nhận cho Ngân hàng xử lý theo các hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng.
Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên phía bị đơn không tham gia hòa giải nên không thể thỏa thuận thống nhất giải quyết toàn bộ vụ án.
Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là QSD đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 476 Tờ bản đồ số 09, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Theo Biên bản thẩm định và sơ đồ thẩm định ngày 05/6/2024 thì hiện trạng sử dụng thửa đất trên phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thửa đất có công trình xây dựng gồm: 01 ngôi nhà 01 tầng đổ mái bằng, diện tích 111,7m²; 01 công trình phụ, lợp mái tôn có diện tích 27,6m²; 01 giàn mát che sân mái tôn, trụ bê tông cốt thép, kèo bằng gỗ, có diện tích 120m²; Hàng rào xây dựng dài 56,3m; 02 Cổng trụ bê tông đổ mái ((80m x 2,6m) x 2); 02 cánh cổng sắt ((3,1m x 2,4m) x 2), gắn vào 02 trụ cổng. Không có cây trồng lâu năm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình; Phía bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng các điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng để tuyên buộc ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán ngay cho Ngân hàng C1 theo HĐTD số 667 ngày 11/05/2023, tính đến ngày 06/8/2024 với tổng số tiền còn nợ Ngân hàng là 1.608.729.619 đồng (bao gồm gốc và lãi) theo HĐTD số 667 ngày 11/05/2023. Kể từ ngày tiếp theo ngày 06/8/2024, ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N còn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ;
Trong trường hợp ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên thì V được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-CX482142/2020/HĐBĐ/NHCT470, ngày 05/10/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS /NHCT470, ngày 30/6/2023 để thu hồi nợ vay.
Buộc ông Trương Quang P có nghĩa vụ thanh toán ngay cho V theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023, tính đến ngày 06/08/2024 với tổng số tiền còn nợ là 102.655.350 đồng (bao gồm gốc và lãi phát sinh) theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023. Kể từ ngày tiếp theo ngày 06/8/2024, ông Trương Quang P còn phải thanh toán các khoản lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ;
Việc rút các yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là tự nguyện; căn cứ Điều 244 Bộ luật Dân sự, đề nghị đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện mà phía nguyên đơn rút tại phiên tòa.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ngân hàng C khởi kiện bị đơn yêu cầu ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vụ án có quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng; căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên tòa phía nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Nhận thấy ngày 11/05/2023, ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N ký kết HĐTD số 667 để vay V tổng số tiền: 1.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm triệu đồng chẵn); Phương thức cho vay: Thấu chi. Thời hạn cho vay: 12 tháng. Mục đích vay: Tiêu dùng. Lãi suất cho vay: Tại thời điểm ký kết hợp đồng là 10,5%/năm.
Ngày 14/07/2023, ông Trương Quang P còn ký kết Hợp đồng Thẻ TCCN để vay tại V - Chi nhánh Q, hạn mức thẻ tài chính cá nhân: 100.000.000 đồng.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trên, ông Trương Quang P đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 009 và HĐSĐBSHĐTC, theo đó tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa số: 476 Tờ bản đồ số: 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX482142, số vào số cấp GCN: CS03146 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 18/08/2020 mang tên ông Trương Quang P.
Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật; vì vậy các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.
Về lãi suất theo HĐTD số 667: Lãi suất trong hạn:10,5%/năm. Lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn = lãi suất trong hạn x 150% tương ứng với thời gian chậm trả, là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N đã sử dụng tổng số tiền: 1.499.965.996 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bốn trăm chín mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi lăm ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng); Đến ngày 22/01/2024, ông P, bà N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông P và bà N mới trả cho Ngân hàng tổng số tiền 96.655.523 đồng (Chín mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm ngàn, năm trăm hai mươi ba đồng); trong đó: Gốc 34.004 đồng, lãi 96.621.519 đồng, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo HĐTD số 667. Căn cứ theo thỏa thuận tại Điều 8 của HĐTD số 667 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, V khởi kiện là có cơ sở.
Đối với việc thực hiện Hợp đồng Thẻ TCCN, ông Trương Quang P đã kích hoạt thẻ và sử dụng nên phải thực hiện theo các điều khoản của Hợp đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 22/01/2024, ông Trương Quang P vi phạm nghĩa vụ để phát sinh nợ quá hạn. Do đó, Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông P trả nợ theo Hợp đồng Thẻ TCCN, là có cơ sở theo thỏa thuận tại Điều 3- Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tài chính cá nhân V, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện về việc V được quyền xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 009 và HĐSĐBSHĐTC trong trường hợp ông P, bà N không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo HĐTD số 667, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguồn gốc thửa đất 476 Tờ bản đồ số: 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Diện tích: 300,5 m² có Giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông Trương Quang P là được tặng cho, đây là tài sản riêng của ông Trương Quang P trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy ông Trương Quang P có quyền ký hợp đồng thế chấp để bảo đảm khoản vay.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện: có tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 01 tầng đổ mái bằng, diện tích 111,7m²; 01 công trình phụ, lợp mái tôn có diện tích 27,6m²; 01 giàn mát che sân mái tôn, trụ bê tông cốt thép, kèo bằng gỗ, có diện tích 120m²; Hàng rào xây dựng dài 56,3m; 02 Cổng trụ bê tông đổ mái (80x2,6m); 02 cánh cổng sắt (3,1mx2,4m) gắn vào 02 trụ cổng. Các tài sản này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân ông P, bà N. Mặc dù bà N không ký Hợp đồng thế chấp tài sản, nhưng tại bản tự khai của ông P, bà N cùng ký tên chấp nhận cho Ngân hàng xử lý theo các hợp đồng đã ký kết. Tại buổi thẩm định tại chỗ, Hội đồng thẩm định đo đạc hiện trạng sử dụng đất và liệt kê toàn bộ tài sản trên đất, bà N ký biên bản và không có ý kiến phản đối. Đồng thời, khoản vay theo HĐTD số 667 là khoản vay chung vợ chồng, do đó tài sản chung vợ chồng đều có nghĩa vụ để thực hiện nghĩa vụ chung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 và khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là QSD đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số: 476 Tờ bản đồ số: 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Diện tích: 300,5 m², trong trường hợp ông P, bà N không trả được nợ gốc và nợ lãi phát sinh theo HĐTD số 667.
[4] Tại phiên tòa, phía nguyên đơn rút các yêu cầu khởi kiện sau:
- Yêu cầu về buộc bà N có nghĩa vụ thanh toán nợ theo Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023 do ông Trương Quang P ký kết với Ngân hàng.
- Yêu cầu về việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất của thửa đất 476 Tờ bản đồ số: 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo HĐTC số 009 ngày và HĐSĐBSHĐTC trong trường hợp ông Trương Quang P không thực hiện trả nợ vay Hợp đồng Thẻ TCCN ngày 14/07/2023.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc rút các yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là tự nguyện, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự để đình chỉ xét xử.
[5]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. V đã nộp tạm ứng chi phí, nên cần buộc bị đơn ông P, bà N phải hoàn trả lại cho V về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[7].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C:
- - Buộc ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP C đến ngày 06/8/2024 toàn bộ số tiền là: 1.608.729.619 đồng (Một tỷ sáu trăm linh tám triệu bảy trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm mười chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.499.965.996 đồng. Nợ lãi trong hạn: 13.839.247 đồng. Nợ lãi quá hạn: 94.924.376 đồng; Theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi số [...]/2023-HĐCV/NHCT470 ngày 11/05/2023 được ký kết giữa ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N và Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q - phòng G.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 06/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi số [...]/2023-HĐCV/NHCT470 ngày 11/05/2023 được ký kết giữa ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N và Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q - phòng G.
- Trong trường hợp ông Trương Quang P, bà Nguyễn Thị N không thực hiện trả toàn bộ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 476 Tờ bản đồ số 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; theo Hợp đồng thế chấp số [...]-CX482142/2020/HĐBĐ/NHCT470, ngày 05/10/2020 được ký kết giữa ông Trương Quang P và Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q - phòng G và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS_/NHCT470, ngày 06/07/2022 được ký kết giữa ông Trương Quang P và Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q - phòng G, để thu hồi nợ vay.
- - Buộc ông Trương Quang P có nghĩa vụ thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C tổng số tiền tính đến ngày 06/08/2024 là 102.655.350 đồng (Một trăm lẻ hai triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn ba trăm năm mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 94.901.935 đồng; Nợ lãi trong hạn: 6.117.675 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.635.740 đồng; Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tài chính cá nhân số 3018955631 ngày 14/07/2023, được ký kết giữa ông Trương Quang P và Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q;
- Kể từ ngày 06/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Quang P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tài chính cá nhân số 3018955631 ngày 14/07/2023, được ký kết giữa ông Trương Quang P và Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q;
- Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện sau:
- Về việc buộc bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán nợ theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tài chính cá nhân số 3018955631 ngày 14/07/2023 do ông Trương Quang P ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q;
- Về việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất 476 Tờ bản đồ số: 9; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-CX482142/2020/HĐBĐ/NHCT470 ngày 05/10/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số CX482142/2022/HĐSĐBS/NHCT470 ngày 30/6/2023 để thu hồi nợ vay trong trường hợp ông Trương Quang P không thực hiện trả nợ vay theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành sử dụng thẻ tài chính cá nhân số 3018955631 ngày 14/07/2023 do ông Trương Quang P ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần C - Chi nhánh Q;
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm:
- - Buộc ông Trương Quang P và bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 60.261.888 đồng (Sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi một nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng) án phí sơ thẩm.
- - Buộc ông Trương Quang P phải chịu số tiền 5.132.767 đồng (Năm triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, bảy trăm sáu mươi bảy đồng) án phí sơ thẩm.
- - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C được nhận lại số tiền: 29.050.000 đồng (Hai mươi chín triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003818 ngày 10/4/2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Nam |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Công Thương Việt Nam yêu cầu buộc Trương Quang Phi, Nguyễn Thị Nga trả nợ theo HĐTD
