Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HSST

Ngày: 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Thái Quang Định.

Thư ký phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Tại điểm cầu thành phần: bà Dương Thị Tố T – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: ông Nguyễn Minh C - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: ông Đỗ Mạnh H - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 5 năm 2024; tại điểm cầu trung tâm: phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Văn N, tên gọi khác: không có; sinh ngày 10/11/2001 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ A, khu A, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng: Anh Đỗ Hoàng A và anh Tống Đức V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/01/2024, tại tổ A, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Cao Văn N có hành vi cất giấu trái phép 0,115 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của N 01 điện thoại di động iPhone màu xám gắn sim số 0339.698.635; 01 xe mô tô Like màu xám, biển kiểm soát (BKS) 14AY-017.64.

Tại Kết luận giám định số: 81/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,115 gam.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Cao Văn N khai nhận: khoảng 10 giờ, ngày 08/01/2024 do có nhu cầu sử dụng ma tuý loại “đá”, N điều khiển xe mô tô BKS 14AY-017.64 đi đến khu vực chợ T2 thuộc huyện T, thành phố Hải Phòng tìm mua ma tuý. Khi đến nơi, N gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm đỗ ở ven đường, N đến hỏi và nhờ người đàn ông này mua hộ 500.000 đồng ma tuý “đá”, người này đồng ý và nhận tiền rồi đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho N 01 chiếc khẩu trang, N nhận và mở ra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2x2,5)cm bên trong chứa ma tuý đá. N cầm túi ma tuý ở tay phải còn chiếc khẩu trang thì vứt đi rồi điều khiển xe đi về thành phố U tìm nơi sử dụng ma tuý. Khi N đi đến khu vực gần Công ty K1, thuộc khu T, phường P, thành phố U thì bị Công an kiểm tra, do lo sợ nên N đã thả gói ma tuý vừa mua xuống nền đường nhưng vẫn bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Cáo trạng số: 15/CT- VKSUB ngày 08/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 08/01/2024. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng. Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, còn nguyên vẹn; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động iPhone màu xám kèm theo sim số 0339.698.635. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Like, BKS 14AY-017.64, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thu H1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H1 nên không đề cập.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường P, thành phố U lập hồi 10 giờ 40 phút ngày 08/01/2024, với vật chứng thu giữ của bị cáo, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/01/2024, tại khu vực tổ A, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Cao Văn N là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,115 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng do đua đòi không làm chủ được bản thân, không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.

* Tình tiết tăng nặng: không có

* Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: số ma túy Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động iPhone màu xám kèm theo sim số 0339.698.635 là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Like BKS 14AY-017.64, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thu H1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H1 nên không đề cập.

[5] Những tình tiết khác trong vụ án: đối với người đàn ông N khai nhờ mua hộ ma tuý. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Cao Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Cao Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 81/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, còn nguyên vẹn; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động iPhone màu xám kèm theo sim số 0339.698.635.

    (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Cao Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Uông Bí;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP Uông Bí;
  • - Chi cục THADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 30/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger