Hệ thống pháp luật

TAND TP. PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DSST

Ngày: 03/5/2024.

Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Văn Đô.
  2. Bà: Lương Thị Mỹ Linh.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Châu - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 317/2023/TLST- DS ngày 25/10/2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST – DS ngày 27/3/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST – DS ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Q – sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Mai Hoàng V – sinh năm 1969

Bà Phạm Thị Thanh T – sinh năm 1968

Địa chỉ: số B đường T, Khu phố G, P, Tp ., tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Hồng H – sinh năm 1976; Địa chỉ: số B Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Tấn Trí N – sinh năm 1969; Trú tại: 2 L, phường G, Quận B, Tp ..

Tại phiên toà có mặt nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Có mặt bị đơn bà Phạm Thị Thanh T, vắng mặt bị đơn ông Mai Hoàng V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn ông Nguyễn Đình Q trình bày:

Vào các ngày 28 tháng 5 năm 2020 và 19 tháng 6 năm 2020, ông Mai Hòag V1 và bà Phạm Thị Thanh T có vay của ông Nguyễn Đình Q số tiền 1.300.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận. Sau đó ông bà V1, T đã trả số tiền là 500.000.000 đồng. Sau khi trả số tiền 500.000.000 đồng, ông bà V1T không trả tiền lãi và cũng không trả gốc tiền vay của ông Q. Mặc dù ông Q đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông V2, bà T vẫn hứa hẹn và không trả. Ngày 21 tháng 8 năm 2023, ông Nguyễn Đình Q đã có văn bản yêu cầu ông V1 và bà T trả tiền vay cho ông Q trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Thông báo nhưng ông V1 và bà T cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do vậy, ông Nguyễn Đình Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giải quyết những vấn đề sau:

Buộc ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T phải trả cho ông Nguyễn Đình Q số tiền vay là 800.000.000 đồng, với lãi suất 20%/năm tính từ ngày 01/01/2021 cho đến khi xét xử xong. Trả làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 27/3/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Đình Q thể hiện chỉ yêu cầu ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T phải trả số tiền vay cho ông Nguyễn Đình Q là 800.000.000 đồng. Ông không yêu cầu ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T phải trả số tiền lãi 400.000.000 đồng.

* Đối với bị đơn ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T:

Mặc dù, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng bị đơn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có lời khai, tài liệu chứng cứ gì trình bày về sự việc trên. Tòa án đã lập biên bản ghi nhận sự vắng mặt của bị đơn và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, đồng thời thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T. Tại phiên tòa xét xử ngày 12/4/2024 ông V, bà T vắng mặt nên tòa án đã hoãn phiên tòa.

Ngày 22/4/2024 bị đơn bà Phạm Thị Thanh T đến Tòa án nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tại buổi làm việc ngày 22/4/2024 bà có lời khai như sau: Bà và ông Mai Hoàng V trước đây là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo quyết định ly hôn số 78/2023/QÐST-HNGĐ. Khi còn chung sống với nhau vợ chồng ông bà có kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn. Mọi việc kinh doanh giao tiếp bên ngoài đều do ông V làm. Ông V làm để tạo lập các tài sản khác trong gia đình. Bản thân bà làm nội trợ và buôn bán nhỏ trước nhà kiếm thêm thu nhập lo cho gia đình. Việc ông V có vay tiền ông Q hay không bà không biết. Bà thừa nhận bà có xài số điện thoại 0944.275.xxx của nhà mạng Vinaphone. Số điện thoại này bà có đăng ký xài zalo. Những tin nhắn từ zalo của bà tới zalo của H (vợ ông Q) do thời gian lâu bà đã quên nội dung. Nay ông Q khởi kiện yêu cầu bà và ông V phải liên đới trả nợ bà không đồng ý vì khoản nợ này là do ông Vũ t mượn không liên quan gì đến bà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Hồng H trình bày: Bà thống nhất như lời khai của ông Q. Đề nghị bị đơn phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền là 800.000.000 đồng. Bà không yêu cầu bị đơn trả lãi.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không đến tòa tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Nguyên đơn xác nhận số tiền cho mượn này là tiền chung của nguyên đơn và bà H (vợ nguyên đơn) nên nay nguyên đơn yêu cầu ông V, bà T phải trả cho vợ chồng nguyên đơn số tiền là 800.000.000 đồng. Ông không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi.

Bị đơn bà Phạm Thị Thanh T có mặt tại phiên tòa không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn ông Mai Hoàng V vắng mặt tại phiên tòa.

Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Mai Hoàng V, bà Phạm Thị Thanh T cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Q, bà H số tiền gốc là 800.000.000 đồng. Về tiền lãi ông Q không yêu cầu bị đơn trả nên không xét. Do ông V, bà T đã thuận tình ly hôn theo quyết định số 78/2023/QÐST – HNGĐ ngày 04/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết nên được chia phần chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Q, bà H, mỗi người phải trả cho ông Q, bà H số tiền là 400.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T phải trả số tiền là 800.000.000 đồng. Bị đơn ông Mai Hoàng V, bà Phạm Thị Thanh T có nơi cư trú tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 03 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

1.2. Bị đơn ông Mai Hoàng V, bà Phạm Thị Thanh T có đăng ký nhân khẩu thường trú tại khu phố G, P, P. Đó cũng là địa chỉ bị đơn đã ghi vào trong giấy vay tiền. tại thời điểm tòa án thụ lý vụ án bị đơn không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên việc đi khỏi nơi cư trú mà không thông báo cho chính quyền địa phương cũng như người mà mình phải có nghĩa vụ được xem là cố tình dấu diếm địa chỉ vì vậy Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay ông Mai Hoàng V vắng mặt không có lý do, do đó

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Mai Hoàng V theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khi giải quyết vụ án.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Nguyên đơn khởi kiện cho rằng vào các ngày 28 tháng 5 năm 2020 và 19 tháng 6 năm 2020, ông Mai Hòag V1 và bà Phạm Thị Thanh T có vay của nguyên đơn số tiền 1.300.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận. Sau đó ông V1, bà T đã trả được 500.000.000 đồng tiền gốc. Từ đó đến nay ông V1, bà T không trả thêm cho ông khoản tiền nào. Mặc dù ông Q đã nhiều lần yêu cầu ông V1, bà T trả nợ nhưng ông V1, bà T cũng vẫn không trả. Vì vậy, nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông V1, bà T phải trả cho ông và bà H số tiền nợ gốc là 800.000.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi của số nợ vay.

Chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Giấy vay mượn tiền (bản chính).

Mặc dù trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án ông Mai Hoàng V không đến tòa, không có ý kiến trình bày về việc có mượn tiền của ông Q hay không. Tuy nhiên, sau khi tòa án trưng cầu giám định chữ ký của ông V trên giấy mượn tiền bằng bản chính thì tại kết luận giám định chữ ký, chữ viết 238/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh B đã xác định như sau: “………Chữ ký, chữ viết mang tên Mai Hoàng V trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Mai Hoàng V trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra”. Tài liệu mẫu so sánh là chữ ký, chữ viết của ông Mai Hoàng V đã ký và viết trong các bản khai, các biên bản làm việc trong vụ án ly hôn giữa ông và bà Phạm Thị Thanh T. Theo Điều 92, Điều 93 Bộ luật dân sự năm 2015 thì giấy vay tiền và kết luận giám định của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh B được xem là nguồn chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy nội dung trong giấy vay tiền là do ông Vũ v, chứng tỏ việc vay mượn này là có thật.

Tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị Thanh T không chịu thừa nhận có nợ ông Q, bà cho rằng đây là nợ riêng của ông V vì giấy mượn tiền không có chữ ký của bà. Tuy nhiên, bà xác định trong quá trình chung sống ông V là người lo kinh tế chính của gia đình, ông V cũng thường vay mượn nợ ở bên ngoài để là để làm ăn lo kinh tế cho gia đình, nhưng nay do ông V đã làm ăn thất bại làm cho cho gia đình mất hết phần lớn tài sản nên nay bà không đồng ý trả nợ chung. Tại bản khai ngày 22/4/2024 cũng như tại phiên tòa hôm nay bà có thừa nhận bà có sử dụng số điện thoại 0944.275.xxx của nhà mạng Vinaphone để đăng ký xài zalo. Nội dung tin nhắn zalo mà ông Q cung cấp thể hiện bà T là người đã trả cho ông Quân số tiền 500.000.000 đồng và liên tục hứa hẹn việc trả nợ. Tuy nhiên, nay bà T không thừa nhận các tin nhắn trả nợ và hẹn nợ trên là của bà gởi tin nhắn cho bà H vợ ông Q. Bà cho rằng các tin nhắn trên có thể là do ông V lấy điện thoại của bà để nhắn tin. Lời khai của bà không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ bà phải chịu trách nhiệm với những nội dung tin nhắn từ số zalo của bà gởi đi. Đồng thời qua xem xét nội dung tin nhắn từ zalo của bà

gởi cho bà H, đối chiếu với lời khai tại phiên tòa hôm nay, cũng như các tài liệu chứng cứ khác có thể khẳng định bà T có biết việc ông Vũ m nợ của ông Q. Mặc dù giấy mượn tiền này không có chữ ký của bà T, nhưng bà biết rõ việc ông V đã mượn nợ của ông Q và việc mượn nợ này là để làm ăn lo cho kinh tế của gia đình trong lúc cả hai đang còn là vợ chồng nên bà phải có trách nhiệm trả nợ chung.

Ông Mai Hoàng V, bà Phạm Thị Thanh T đã vi phạm hợp đồng không trả tiền cho nguyên đơn, do đó nguyên đơn khởi kiện buộc ông V, bà T phải trả nợ cho vợ chồng nguyên đơn số tiền gốc là 800.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về yêu cầu tính lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Ngày 04/5/2023 ông V, bà T đã ly hôn theo quyết định số 78/2023/QÐST – HNGĐ của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết nên buộc ông V, bà T cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ và được chia phần trả nợ cho ông Q và bà H là có cơ sở.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông V, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn không yêu cầu ông V, bà T phải hoàn trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết cũng như tiền lập vi bằng nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 159, 160; 161; 162; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 3 Điều 40, Điều 277, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 27, khoản 01 Điều 30, khoản 2 Điều 37 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đình Q.

Buộc ông Mai Hoàng V và bà Phạm Thị Thanh T cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Nguyễn Đình Q và bà Phan Thị Hồng H số tiền là 800.000.000 và được chia phần như sau: ông Mai Hoàng V có trách nhiệm trả nợ cho ông Nguyễn Đình Q và bà Phan Thị Hồng H số tiền là 400.000.000 đồng. Bà Phạm Thị Thanh T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Đình Q và bà Phan Thị Hồng H số tiền là 400.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu

cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3/ Về chi phí giám định và chi phí lập vi bằng: Nguyên đơn tự chịu nên Hội đồng xét xử không xét

4/ Về án phí: Ông Mai Hoàng V phải chịu 20.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bà Phạm Thị Thanh T phải chịu 20.000.000 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại số tiền 24.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp trước đó theo biên lai thu tiền số 0018894 ngày 23/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết cho nguyên đơn ông Nguyễn Đình Q..

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt bị đơn ông Mai Hoàng V, có mặt bị đơn bà Phạm Thị Thanh T. Quyền kháng cáo bản án này của người có mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/5/2024). Quyền kháng cáo bản án này của người vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - VKS Tp. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Thiết;
  • - Đương sự;
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 30/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger