Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 03-5-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Phượng;

Ông Hứa Minh Thân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 23/4/2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 10/2024/QĐ-TA ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Lộc Thị T; sinh ngày: 09/8/1995 tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Viết L (đã chết) và bà Hứa Thị P (sinh năm 1959); có chồng là Lăng Văn T1; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024, đến ngày 02/02/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Trung V – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lăng Văn M, sinh năm 1986. Vắng mặt.
  2. Anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1986. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường trường tiểu học xã T thuộc khu A, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lăng Văn M và Hoàng Văn L1 có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ của Lăng Văn M và Hoàng Văn L1 mỗi người 01 tờ vé số, lô tô nghi là cáp lô, đề. Lăng Văn M và Hoàng Văn L1 khai nhận đó là tờ cáp ghi số lô, số đề vừa mua với người phụ nữ tên T tại ngã tư chợ T3 thuộc khu A, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ lời khai của Lăng Văn M và Hoàng Văn L1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành triệu tập Lộc Thị T. Quá trình điều tra thu giữ của Lăng Văn M và Hoàng Văn L1 02 tờ cáp ghi các số lô, số đề; thu giữ của Lộc Thị T số tiền 5.100.000 đồng và 01 tờ giấy A4 có dòng kẻ “Bảng kê số dự thưởng lô tô, lô tô cặp số” ký tên Thởi. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 10/2023 bị cáo ký hợp đồng làm đại lý cấp 2 cho Công ty TNHH một thành viên X và đặt bàn bán vé xổ số, lô tô cạnh đường thuộc thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 10 ngày trước khi bị bắt, có một người phụ nữ tên H, khoảng 35 – 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô tay ga màu trắng (không rõ biển kiểm soát) đến bảo bị cáo Lộc Thị T ghi số lô, số đề cho H và thoả thuận đối với mỗi số đề ghi cho khách, bị cáo Lộc Thị T được hưởng lợi 150 đồng; đối với mỗi điểm lô được hưởng lợi 1.000 đồng. Sau khi bán được các số lô, đề cho khách bị cáo Lộc Thị T sẽ tổng hợp lại, đến khoảng 18 giờ hàng ngày, H sẽ đến lấy bảng lô, đề của bị cáo, đồng thời cả hai sẽ tính tiền thắng, thua của ngày hôm trước. Bị cáo Lộc Thị T đồng ý. Ngày 03/01/2024 do bị cơ quan Công an triệu tập làm việc nên bị cáo Lộc Thị T chưa chuyển được bảng lô, đề cho H. Các loại hình số lô, số đề bị cáo Lộc Thị T nhận ghi cho khách như sau:

- Loại hình lô: Mỗi số lô là một số có 02 chữ số, số lô trúng thưởng là số trùng với 02 số cuối của 01 trong 27 giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm lô có giá 23.000 đồng, trúng thưởng sẽ nhận được 80.000 đồng.

- Loại hình đề: Mỗi số đề là một số có 02 chữ số, số đề trúng thưởng là số trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm đề có giá 1.000 đồng, trúng thưởng sẽ nhận được 70.000 đồng.

- Loại hình lô xiên: Mỗi số lô xiên (xiên 2, xiên 3, xiên 4) là những bộ số có 02, 03, 04 con số; số lô xiên trúng thưởng là bộ số trùng với 02 số cuối của 02, 03, 04 trong 27 giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày hôm đó. Mỗi điểm lô xiên có giá 1.000 đồng. Một điểm lô xiên 2 trúng thưởng sẽ nhận được 10.000 đồng, một điểm lô xiên 3 trúng thưởng sẽ nhận được 40.000 đồng, một điểm lô xiên 4 trúng thưởng sẽ nhận được 100.000 đồng.

Đối với số tiền đánh bạc được xác định theo tờ A4 “Bảng kê số dự thưởng lô tô, lô tô cặp số” thu giữ của Lộc Thị T ghi ngày 03/01/2024 có tổng cộng 790 điểm lô, 3.495 điểm đề, 350 điểm lô xiên, tương ứng tổng cộng là 21.536.500 đồng. Trong đó, số lô, đề Lộc Thị T ghi cho khách là 355 điểm lô, 3.205 điểm đề, 350 điểm lô xiên, tương ứng với tổng số tiền là 11.720.000 đồng (bao gồm số tiền lô Lộc Thị T ghi cho Lăng Văn M và Hoàng Văn L1 trong ngày 03/01/2024 là 5.100.000 đồng); số lô, đề còn lại là do T tự đánh với H là 435 điểm lô, 290 điểm đề, tương ứng với tổng số tiền 9.816.500 đồng.

Tại phiên toà, bị cáo khai bản thân là lao động chính trong gia đình, đi làm thuê không có thu nhập ổn định, hiện đang nuôi hai con nhỏ; bố mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng; chồng của bị cáo nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập, đang điều trị M1. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo nộp cho Tòa án 02 Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của ông Lộc Viết L, bà Hứa Thị P và 01 thẻ uống thuốc Methadone mang tên Lăng Văn T1.

Tại cơ quan điều tra, những người làm chứng trình bày: Ngày 03/01/2024, anh Lăng Văn M mua 100 điểm lô với giá 23.000 đồng/điểm, tương ứng số tiền 2.300.000 đồng và 300 điểm đề với giá 1.000 đồng/điểm, tương ứng với số tiền 300.000 đồng; anh Hoàng Văn L1 mua 100 điểm lô tương ứng số tiền 2.300.000 đồng, 200 điểm đề tương ứng với số tiền 200.000 đồng với bị cáo Lộc Thị T. Toàn bộ số tiền đánh bạc 5.100.000 đồng anh Lăng Văn M và anh Hoàng Văn L1 đã đưa cho bị cáo Lộc Thị T.

Tại Bản kết luận giám định số 267/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 5.100.000 đồng trong phong bì gửi giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Thị T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 47; Điều 50; 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Lộc Thị T xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 24 đến 36 tháng do bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố mẹ có công với cách mạng và bị cáo là lao động chính trong gia đình. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung vì các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.100.000 đồng là khoản thu bất chính từ việc phạm tội và truy thu 16.436.500 đồng là tiền dùng vào hành vi phạm tội; lưu hồ sơ vụ án 02 cáp đề và 01 tờ giấy A4 ghi các số lô, đề. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo và người bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, án phí. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không truy thu số tiền 16.436.500 đồng do số tiền này bị cáo mới chỉ ghi trên sổ sách, chưa chi tiền thực tế để đánh bạc. Đề nghị xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Số tiền 16.436.500 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần truy thu theo quy định.

Lời nói sau cùng các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, người chứng kiến nhưng họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với vật chứng thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 03/01/2024, bị cáo Lộc Thị T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với các đối tượng Lăng Văn M và Hoàng Văn L1, đối tượng H và một số người khác (không rõ tên, tuổi địa chỉ). Tổng số tiền đánh bạc là 21.536.500 đồng.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[5] Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lộc Thị T phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bố mẹ của bị cáo là người có công trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo giới tính nữ, tuổi đời con trẻ, đang nuôi 02 con nhỏ sinh năm 2015 và 2018, chồng nghiện ma túy đang điều trị Methadone.

[9] Đối với Lăng Văn M và Hoàng Văn L1, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô, số đề theo quy định.

[10] Đối với người phụ nữ tên H và những người mua số lô, số đề khác (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, tuy nhiên đến nay chưa xác định được rõ nhân thân, lại lịch nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

[11] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị, là lao động chính trong gia đình. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[12] Qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

[13] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 21.536.500 đồng bị cáo dùng để đánh bạc, cụ thể: Tịch thu số tiền 5.100.000 đồng tạm giữ của bị cáo Lộc Thị T, truy thu của bị cáo Lộc Thị T số tiền 16.436.500 đồng. Lưu hồ sơ vụ án 02 tờ cáp ghi các số lô, số đề thu giữ của Lăng Văn M, Hoàng Văn L1 và 01 tờ giấy A4 có dòng kẻ “Bảng kê số dự thưởng lô tô, lô tô cặp số” thu giữ của Lộc Thị T.

[14] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[15] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[16] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận. Xét các ý kiến của người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, các ý kiến không phù hợp thì không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 50, 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Thị T phạm tội Đánh bạc.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Thị T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/5/2024).

    Giao bị cáo Lộc Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lộc Thị T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp

    3.1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.100.000 (năm triệu một trăm nghìn) đồng đã được nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán ngày 26/3/2024, số tham chiếu 2420410304468345 của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện V, tỉnh Lạng Sơn.

    3.2. Truy thu đối với bị cáo Lộc Thị T số tiền 16.436.500 (mười sáu triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm) đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

    3.3. Lưu hồ sơ vụ án: Hai tờ cáp ghi các số lô, số đề và 01 tờ giấy A4 có dòng kẻ “Bảng kê số dự thưởng lô tô, lô tô cặp số” ký tên Thởi.

  4. Án phí: Bị cáo Lộc Thị T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQĐT Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/01/2024, bị cáo Lộc Thị T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với các đối tượng Lăng Văn M và Hoàng Văn L1, đối tượng H và một số người khác (không rõ tên, tuổi địa chỉ). Tổng số tiền đánh bạc là 21.536.500 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger