Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trang Thái Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Văn Hải.
  • - Ông Nguyễn Hồng Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Sĩ và bà Huỳnh Thị Tuyết T là Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Thông báo số: 07/TB-TA ngày 26 tháng 4 năm 2024:

Trần Quang T1 (tên gọi khác L), sinh ngày 16 tháng 5 năm 1993; tại: tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ô2/132 khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn R và bà Nguyễn Thị Kim H; vợ, con: Không có; tiền án: không có; tiền sự: không có (vì đã hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: ngày 03/01/2019 bị xử phạt số tiền 750.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 336/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa nộp phạt); ngày 07/5/2021 bị xử phạt số tiền 1.000.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 1326/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa nộp phạt). Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2023 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ ngày 21/12/2023, Trần Quang T1 đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của bạn gái cũ là Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1997, ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh hẹn gặp tại nhà nghỉ S thuộc ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh để “Tâm sự” (mục đích là để quan hệ tình dục), thì T1 đồng ý. Trường thuê xe ôm đi một mình đến khu vực gần quán N2 thuộc ấp C, xã A, huyện B gặp một người đàn ông tên V hỏi mua ma tuý đá và bộ D sử dụng ma tuý với giá 300.000 đồng thì V đồng ý bán. Sau khi mua ma tuý xong, T1 tiếp tục lên xe ôm mang theo chất ma tuý và bộ dụng cụ đến điểm hẹn. Do không có xe đến điểm hẹn, Huỳnh N nhờ Huỳnh Thị Thủy T2, sinh năm 1999, ngụ ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh chở đến gặp T1. Sau đó, T1 vào nhà nghỉ S thuê phòng số 9, rồi cùng Như vào phòng. Do trời nắng nóng, N rủ T2 vào phòng nghỉ cho mát rồi sau đó hãy về nhưng T2 còn đứng bên ngoài. T1 vào phòng khoảng 05 phút thì lấy ma tuý ra sử dụng, T1 rủ Như sử dụng ma tuý chung thì N đồng ý. T1 lấy ma tuý đổ vào bộ D sử dụng ma tuý rồi dùng bật lửa nấu ma tuý lên sử dụng. Khoảng 10 phút sau, T2 mở cửa vào phòng số 9, thấy T1 và N đang sử dụng ma tuý và cùng vào sử dụng. T1 sử dụng được 01 hơi rồi đưa ma tuý cho N và T2 sử dụng, lần lượt mỗi người sử dụng được 02 hơi thì bị Công an đến kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong có 0,1196 gam ma túy và một số vật chứng khác có liên quan.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, bị can T3 nhận được điện thoại của Như (là bạn gái của bị can T3) rủ đến nhà nghỉ “Song Ái” thuộc ấp C, xã A của ông Huỳnh T4, sinh năm 1957, ngụ khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh làm chủ để quan hệ tình dục.

- Kết luận giám định số: 2034/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 ống thuỷ tinh trong suốt, một đầu có ụ tròn (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1196 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định 0,0741 gam.

- Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 21/12/2023, phát hiện Trần Quang T1, Nguyễn Thị Huỳnh N, Huỳnh Thị Thủy T2 có kết quả dương tính với chất ma túy (Methamphetamine).

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, Trần Quang T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

- Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ghi số: 2034/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T (mẫu vật còn lại sau giám định), 01 dụng cụ sử dụng ma túy, 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, 02 bật lửa (một màu xanh lá cây, một màu xanh dương), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus số imei 353296073043736 đã qua sử dụng; đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh chờ xử lý.

- Kế quả xác minh, Trần Quang T1 không có tài sản nên không kê biên tài sản.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSBC ngày 01 tháng 3 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Trần Quang T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Quang T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang T1 từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng trong vụ án theo qui định pháp luật.

Bị cáo Trần Quang T1 thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến bào chữa.

Bị cáo Trần Quang T1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn và hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về định tội danh và điều luật áp dụng: Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T1 thừa nhận: Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, Trần Quang T1 đến nhà nghỉ S khu vực ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Trần Quang T1 có hành vi cung cấp chất ma túy loại Methamphetamine để tổ chức cho Nguyễn Thị Huỳnh N, Huỳnh Thị Thủy T2 sử dụng trái phép thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 2034/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 ống thuỷ tinh trong suốt, một đầu có ụ tròn (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1196 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định 0,0741 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu giữ nên có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Trần Quang T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng số: 19/CT-VKSBC ngày 01 tháng 03 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các qui định của Nhà nước trong lĩnh vực kiểm soát, quản lý các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự địa phương. Việc tổ chức và sử dụng ma túy của bị cáo không những nguy hiểm cho bản thân mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội nên cần nghiêm trị. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo không nộp phạt và không biết lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, khắc phục sai lầm mà tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng hình phạt tù và miễn phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quang T1 là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với 01 gói niên phong ghi số: 2034/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T chứa ma tuý còn lại sau giám định; 01 dụng cụ sử dụng ma túy, 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, 02 bật lửa (một màu xanh lá cây, một màu xanh dương) là dụng cụ để sử dụng ma tuý, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus số imei 353296073043736 (đã qua sử dụng) của bị cáo T1 sử dụng vào việc liên lạc mua ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Đối với người đàn ông tên V là bán ma tuý cho bị cáo T1 nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T1 và Nguyễn Thị Huỳnh N, Huỳnh Thị Thủy T2 đã bị Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính theo quy định nên không đặt ra để xem xét.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Quang T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T1 (tên gọi khác L) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang T1 (tên gọi khác Lé) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.
    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Quang T1 (tên gọi khác Lé).
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số: 2034/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T chứa ma tuý còn lại sau giám định; 01 dụng cụ sử dụng ma túy, 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, 02 bật lửa (một màu xanh lá cây, một màu xanh dương).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus số imei 353296073043736 (đã qua sử dụng).

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quang T1 (tên gọi khác L) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Quang T1 (tên gọi khác Lé) được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Công an huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trang Thái Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Trường - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger