TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/DS-PT Ngày: 03 - 03 - 2025 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Hồng Hạnh |
| Các Thẩm phán: | Bà Đinh Thị Quý Chi |
| Ông Phạm Tiến Hiệp |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 24 tháng 02 và ngày 03 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 210/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2025/QĐXX-PT ngày 02/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1978; cư trú tại: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1967; cư trú tại: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Hán Xuân T, sinh năm 1968; (có mặt)
- - Bà Hán Thị X, sinh năm 1990; (có mặt)
Cùng cư trú tại: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X: ông Đàm Bảo H1, sinh năm 1976, địa chỉ: G N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13-5-2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị B trình bày:
Bà B với bà Nguyễn Thị Xuân H là chỗ quen biết với nhau, còn ông Hán Xuân T là chồng bà H và bà Hán Thị X là con bà H. Bà Phạm Thị B nhiều lần cho bà Nguyễn Thị Xuân H vay tiền cụ thể:
- + Năm 2020 (không nhớ rõ ngày tháng) bà B cho bà Nguyễn Thị Xuân H vay số tiền 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng), việc vay mượn có lập giấy tờ, với mức lãi suất 2.500đ/triệu/ngày. Thời hạn vay là 03 ngày, nhưng hết thời hạn 03 ngày bà B có yêu cầu bà H trả nợ nhưng do bà H không có tiền nên bà giảm lãi suất xuống cho bà H với mức lãi suất 2,5%/tháng/triệu. Khi vay có lập giấy tờ viết tay, giấy này do bà B giữ, mục đích bà H vay để đáo hạn ngân hàng. Kể từ ngày vay bà H đã trả tiền cho bà rất nhiều lần, có lần trả bằng tiền mặt (không lập giấy tờ) có lần chuyển qua tài khoản ngân hàng (do thời gian đã lâu nên bà không nhớ). Đến ngày 26-10-2023 hai bên có lập giấy tay “hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” để chốt nợ với nhau thể hiện nội dung số tiền bà H còn nợ của bà B là 384.000.000₫ (Ba trăm tám mươi tư triệu đồng), có bà Nguyễn Thị Xuân H ký và chồng là ông Hán Xuân T và con là bà Hán Thị X cùng ký và ghi họ tên vào giấy. Hẹn đến ngày 26-11-2023 sẽ thanh toán hết số tiền này, giấy hợp đồng này do bà H viết. Khoản vay này chỉ một mình bà H đứng ra vay nhưng do khoản vay này là khoản vay chung của gia đình bà H, chi vào việc trả nợ nên sau đó bà mới yêu cầu các thành viên trong gia đình bà H là ông T và bà X ký vào giấy cho bà.
- + Khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 năm 2023 (không nhớ rõ ngày) bà B có cho bà H và bà Hán Thị X vay số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), trong đó chuyển khoản số tiền 790.000.000₫ (Bảy trăm chín mươi triệu đồng) và nhận tiền mặt là 410.000.000₫ (Bốn trăm mười triệu đồng) có lập giấy tờ viết tay được viết chung vào giấy mượn tiền, mục đích vay là để chuộc sổ do bà X đang cầm cố sổ cho ông D, bà H2 và bà Ngọc A ở thôn P, xã P để vay Ngân hàng. Tuy nhiên, sau khi vay được Ngân hàng thì bà H không trả hết tiền cho bà B, mặc dù bà có yêu cầu gia đình bà H rất nhiều lần nhưng bà H chỉ trả dần tiền cho bà, đến ngày 05-10-2023 hai bên thống nhất xé bỏ giấy vay giấy vay của khoản vay 1.200.000.000₫ và lập giấy “Hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” để chốt nợ với nội dung số tiền bà H, ông T và bà X còn nợ của bà là 1.050.000.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), hẹn 30 ngày sẽ trả nợ (05-11-2023). Giấy hợp đồng do bà H lập, trong giấy có bà H, ông T và bà X cùng ký và ghi họ tên. Lý do ông T và bà X ký tên vào hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng này và do khoản vay này là khoản vay chung của gia đình bà H, chi vào việc trả nợ nên khi lập lại giấy hợp đồng bà B đã yêu cầu ông T, bà X cùng ký vào giấy cho bà và lãi suất hai bên thỏa thuận bằng miệng là 2,5%/tháng/triệu.
Đến thời hạn trả nợ gia đình bà H không chịu trả nợ cho bà nên ngày 11-5-2024 hai bên có thỏa thuận chốt lại số tiền nợ gốc và lãi suất thì bà H và ông T thống nhất còn nợ của bà số tiền lãi suất của 02 khoản vay theo hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng ngày 05-10-2023 số tiền 384.000.000 đồng và khoản vay theo hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng ngày 26-10-2023 số tiền 1.050.000.000 đồng là 200.000.000 đồng. Bà B xác định giữa bà B với bà H không có làm ăn chung với nhau.
Do vậy bà B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H, ông T, bà X có nghĩa vụ liên đới trả cho bà tổng số tiền nợ gốc 1.434.000.000 đồng và lãi suất tạm tính đến ngày 11-5-2024 là 200.000.000 đồng. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bà B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà H, ông T và bà X có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ là 1.434.000.000₫ (Một tỷ bốn trăm ba mươi bốn nghìn đồng) và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật là không quá 20%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, không yêu cầu trả số tiền lãi 200.000.000 đồng theo giấy chốt nợ gày 11-5-2024.
Tại phiên tòa bà B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà H, ông T và bà X có trách nhiệm liên đới trả số tiền gốc vay của cả hai khoản vay còn lại là 1.434.000.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H trình bày:
Bà H thống nhất với phần trình bày của bà B. Do quen biết nên bà có vay tiền của bà B nhiều lần, tuy nhiên bà không đồng ý với phần trình bày của bà B đối với số tiền vay còn lại cụ thể:
- - Khoản vay 384.000.000đ (ba trăm tám mươi tư triệu đồng): Khoảng ngày 20-10-2020 bà có vay của bà B số tiền 700.000.000 đồng, mức lãi suất 2.500đ/triệu/ngày, mục đích bà và bà B làm chung với nhau về việc đáo hạn số ngân hàng, sau đó bà gom thêm tiền và cho bà Hồ Thị H3 ở thành phố Đ vay (việc làm chung này hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng) nhưng do bà lấy tiền chỗ bà B nên phải ghi giấy nợ cho bà B. Tuy nhiên, sau đó làm ăn gặp rủi ro do bà H3 không trả nợ cho bà nên bà đã bán đất trả bớt tiền gốc và lãi suất cho bà B theo mức lãi suất thỏa thuận ban đầu nên số tiền còn nợ lại của bà B là 277.000.000 đồng. Khi vay thỏa thuận tiền lãi suất 3%/tháng/triệu (bà đã trả lãi cho bà B 01 năm tức trả trong năm 2022) sau đó bà B giảm lãi suất xuống còn 2,5%/tháng/triệu, bà B đã chốt cả tiền gốc và lãi suất cho bà thành 384.000.000₫ (Ba trăm tám mươi tư triệu đồng) và lập giấy “hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng”, giấy này do bà viết trong giấy có chữ ký và viết tên của bà, nhưng do đây là khoản vay chung của gia đình và chi vào việc trả nợ nên khoảng 01 năm sau bà B mới đưa giấy yêu cầu bà H cho chồng bà là Hán Xuân T và con gái là Hán Thị X cùng ký vào giấy, tất cả các giấy vay đều do bà B giữ. Bà H xác định chữ ký trong giấy “hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” là của ông T và bà X.
- - Đối với khoản vay 1.050.000.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng): Ngày 4 tháng 5 năm 2023, bà và con gái là Hán Thị X vay của bà B số tiền 1.200.000.000₫ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), trong đó chuyển khoản số tiền 790.000.000đ (bảy trăm chín mươi triệu đồng) và nhận tiền mặt là 410.000.000₫ (Bốn trăm mười triệu đồng), có lập giấy tờ được viết chung vào giấy mượn tiền, có bà và con gái là X cùng vay và ký vào giấy vay cho bà B, về lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 2.500đ/triệu/ngày, mục đích vay tiền là để chuộc sổ đỏ do bà X (con của bà) đang cầm cố ở ngoài về để nhằm mục đích vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, do không vay được số tiền mong muốn nên chưa trả được hết số tiền cho bà B. Từ ngày 17-5-2023 đến ngày 22-9-2023 bà đã chuyển khoản trả cho bà B số tiền cụ thể:
- + Ngày 17-5-2023: 20.000.000 đồng;
- + Ngày 21-5-2023: 10.000.000 đồng;
- + Ngày 05-6-2023: 70.000.000 đồng;
- + Ngày 07-6-2023: 25.000.000 đồng;
- + Ngày 16-6-2023: 130.000.000 đồng;
- + Ngày 20-6-2023: 100.000.000 đồng;
- + Ngày 10-8-2023: 85.000.000 đồng;
- + Ngày 24-8-2023: 100.000.000 đồng;
- + Ngày 22-9-2023: 10.000.000 đồng;
Vào ngày 07-6-2023 bà có mượn lại của bà B số tiền 5.000.000 đồng. Vậy tổng số tiền bà H chuyển trả cho bà B là 550.000.000 đồng, trừ đi số tiền 5.000.000 đồng vay lại thì bà đã chuyển trả cho bà B số tiền 545.000.000 đồng. Vậy số tiền bà còn nợ của bà B của khoản vay 1.200.000.000 đồng là 655.000.000 đồng. Đến ngày 05-10-2023 bà B gọi bà ra để ký lại giấy nợ (giấy ghi nợ của bà B luôn luôn ghi vào tờ “Hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng”), tiền lãi bà B tự tính và yêu cầu bà viết lại giấy nợ bao gồm nợ gốc và lãi thành tiền gốc là 1.050.000.000 đồng.
Đến ngày 11-5-2024 bà B cùng 03 người nữa hẹn bà lên vườn rẫy của bà tại thôn I, xã B, huyện B để gặp chồng bà là Hán Xuân T yêu cầu chồng bà ký vào 02 giấy nhận nợ 01 khoản là 1.050.000.000 đồng và 01 khoản 384.000.000 đồng và kèm theo một giấy nợ lãi 200.000.000 đồng. Sau khi ký xong gia đình bà có thiện chí đưa ra 03 phương án trả nợ: một là nhờ bà Bình bán những miếng đất bà đã gửi sổ; hai là trả bằng tài sản là diện tích đất 12 mét ngang dài 45 mét, thổ cư 100m2 tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; ba là trả dần bằng tiền mặt trong 06 tháng. Bà mong Tòa án xem xét cho bà được trả lãi theo quy định của pháp luật và được hỗ trợ khắc phục khoản nợ này trong 12 tháng và cho bà bắt đầu trả nợ từ tháng 6 trở đi.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà B yêu cầu bà và ông Hán Xuân T, bà Hán Thị X có trách nhiệm liên đới trả số tiền gốc vay là 1.434.000.000 đồng thì bà không đồng ý. Bà H xác định tổng số tiền bà chỉ còn nợ của bà B tiền gốc của cả hai khoản vay là 932.000.000₫ (Chín trăm ba mươi hai triệu đồng), đối với tiền lãi bà B yêu cầu trả lãi với mức lãi suất 10%/năm thì bà đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hán Xuân T trình bày:
Ông và bà H là vợ chồng với nhau, còn X là con gái của ông, bà, ông thống nhất lời trình bày của bà H. Ông không trực tiếp vay khoản tiền nào của bà B nhưng vợ ông là bà H có vay tiền của bà B, thời gian vay, số tiền vay cụ thể tại thời điểm vay ông không biết và cũng không được thỏa thuận gì đối với các giấy vay. Đến ngày 11-5-2024 bà B lên nhà ông và yêu cầu ký vào ba tờ giấy hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng thì ông đồng ý ký vì đây là khoản vay chung của gia đình, chi vào tiền để trả nợ. Khi vợ ông vay thì ông không biết nhưng sau khi vay thì vợ ông có nói lại cho ông biết là có vay tiền của bà B để trả nợ. Ông T xác định ba hợp đồng đáo hạn vay ngân hàng là giấy bà B đưa ông ký, chữ ký chữ viết trong giấy là của ông. Nay bà B khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông và con gái Hán Thị X có nghĩa vụ liên đới trả tổng số tiền nợ gốc 1.434.000.000 đồng và lãi tính từ ngày chốt nợ là ngày 05-10-2023 và ngày 26-10-2023 theo mức lãi suất 20%/năm thì ông đồng ý cùng vợ và con trả tiền cho bà B số tiền gốc của hai khoản vay theo vợ ông là bà H trình bày là 932.000.000 đồng. Ông đề nghị bà B tách số tiền nợ gốc mà vợ ông nhận, giảm tiền lãi trên số tiền nợ gốc lãi suất tính theo tháng và xin trả dần theo phương thức giữa vợ ông và bà B thống nhất được.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X trình bày:
Bà không nhận từ bà B bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến 02 khoản vay mà bà B nêu trong đơn khởi kiện, bà cũng không thực hiện thỏa thuận bằng miệng cũng như bằng văn bản nào với bà B về khoản lãi suất 200.000.000 đồng mà bà B đã trêu trong đơn. Sở dĩ bà có tên vào 02 tờ giấy vay nợ đính kèm trong hồ sơ khởi kiện của bà B là ký bổ sung giúp mẹ bà và đây là khoản vay chung của gia đình, chi vào tiền để trả nợ cụ thể:
- - Đối với khoản nợ 1.050.000.000 đồng: Vào ngày 04-5-2023 bà cùng mẹ là bà H có mượn của bà Phạm Thị B số tiền 1.200.000.000 đồng để chuộc sổ cầm ngoài về để vay ngân hàng. Tuy nhiên, sau đó do số tiền vay ngân hàng không đủ, mẹ bà có báo lại với bà B tình hình và trong suốt thời gian đó gom góp được bao nhiêu mẹ bà trả cho bà B bấy nhiêu.
- Từ ngày 17-05-2023 đến ngày 22-09-2023 mẹ bà đã chuyển khoản trả lại cho bà B những khoản tiền cụ thể như sau:
- + Ngày 17-5-2023: 20.000.000 đồng;
- + Ngày 21-5-2023: 10.000.000 đồng;
- + Ngày 05-6-2023: 70.000.000 đồng;
- + Ngày 07-6-2023: 25.000.000 đồng;
- + Ngày 16-6-2023: 130.000.000 đồng;
- + Ngày 20-6-2023: 100.000.000 đồng;
- + Ngày 10-8-2023: 85.000.000 đồng;
- + Ngày 24-8-2023: 100.000.000 đồng;
- + Ngày 22-9-2023: 10.000.000 đồng;
Tổng cộng, mẹ bà đã chuyển trả lại cho bà B từ ngày 17-05-2023 đến ngày 22-9-2023 là 545.000.000 đồng.
Vậy thực chất của khoản vay này là bà cùng với mẹ bà vay bà B vào ngày 04-5-2023 số tiền được chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của mẹ bà, sau đó mẹ bà đã trả cho bà B tổng số tiền là 545.000.000 đồng, vậy số tiền nợ lại là 655.000.000 đồng. Đến ngày 05-10-2023 bà B gọi mẹ bà ra để ký lại giấy nợ, giấy ghi nợ của bà B luôn luôn ghi vào tờ “Hợp đồng đáo hạn ngân hàng”, tiền lãi bà B tự tính và yêu cầu mẹ bà viết lại giấy nợ bao gồm nợ gốc và lãi thành tiền gốc là 1.050.000.000 đồng. Bà B yêu cầu mẹ bà là bà H đưa cho bà cùng bố là Hán Xuân T ký bổ sung, việc bà đồng ý ký bổ sung vào phần trách nhiệm trả nợ theo yêu cầu của mẹ bà là bà H chứ bà không đọc lại nội dung của giấy hợp đồng.
- - Đối với khoản nợ 384.000.000 đồng: Khoản vay này do mẹ bà là bà H trực tiếp vay của bà B, mẹ bà vay trước đó khoản 1.200.000.000 đồng như bà B đã trình bày, do công việc làm ăn rủi ro, mẹ bà mất trắng nên sau khi khắc phục hậu quả thì còn nợ bà B số tiền là 277.000.000 đồng. Đến ngày 26-10-2023 cũng bằng cách trên bà B cộng số tiền nợ gốc và lãi và yêu cầu mẹ bà viết lại giấy nợ mới và yêu cầu đưa về cho bà bà bố là ông T ký bổ sung, việc bà đồng ý ký bổ sung vào phần trách nhiệm trả nợ theo yêu cầu của mẹ bà là bà H chứ bà không đọc lại nội dung của giấy hợp đồng.
- - Đối với khoản tiền lãi 200.000.000 đồng: Khoản lãi này bà không biết, khi bà không có mặt ở nhà, bà B đã đưa người lên cố ý gây áp lực để bố mẹ bà ký nhận nợ thêm 200.000.000 đồng tiền lãi của hai khoản vay trên. Theo tình hình thực tế bà B đã tính lãi chồng lãi trong khi mẹ bà đã nhiều lần xin giảm lãi, khoanh nợ và khất nợ.
Tại phiên tòa bà B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện buộc bà có trách nhiệm liên đới cùng với bà Nguyễn Thị Xuân H và ông Hán Xuân T trả số tiền gốc tổng 02 khoản tiền vay là 1.434.000.000 đồng và tiền lãi suất của hai khoản vay là 10%/năm cụ thể đối với khoản vay 1.050.000.000 đồng tính từ ngày 05-10-2023 và từ ngày 26-10-2023 đối với khoản vay 384.000.000 đồng thì bà không đồng ý, bà chỉ đồng ý theo ý kiến của bà H với số tiền mẹ bà còn nợ lại bà B là 932.000.000 đồng, đối với phần lãi suất bà B yêu cầu với mức lãi suất là 10%/năm thì bà đồng ý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
[1.1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị B.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hán Xuân T, bà Hán Thị X có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị B số tiền gốc 1.434.000.000 đồng, tiền lãi suất là 136.723.622 đồng.Tổng cộng 1.535.750.950đ (Một tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn chín trăm năm mươi đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên phần án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/0/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết huỷ Bản án sơ thẩm để giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X đề nghị Hội đồng xét xử huỷ Bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- - Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan làm trong thời hạn luật định, có hình thức, nội dung và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của BLTTDS năm 2015 nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Nguyên đơn bà Phạm Thị B khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hán Xuân T và bà Hán Thị X có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ gốc là 1.434.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 05-10-2023 bà Nguyễn Thị Xuân H có lập giấy chốt nợ cho bà Phạm Thị B với nội dung “Hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” bà Nguyễn Thị Xuân H cùng chồng là ông Hán Xuân T và con gái là Hán Thị X có vay bà B số tiền là 1.050.000.000 đồng và ngày 26-10-2023 bà Nguyễn Thị Xuân H có lập giấy chốt nợ cho bà Phạm Thị B với nội dung “Hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” bà Nguyễn Thị Xuân H cùng chồng là ông Hán Xuân T và con gái là Hán Thị X có vay bà B số tiền là 384.000.000 đồng. Các hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng các bên đều thừa nhận ký và ghi họ tên của bà Nguyễn Thị Xuân H, ông Hán Xuân T, bà Hán Thị X và bà Phạm Thị B.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, các đương sự không thống nhất được số tiền bà H, ông T và bà X còn nợ của bà B. Ngày 05-8-2024 bà H cung cấp 01 tập bản sao kê tài khoản có xác nhận của Ngân hàng N – Chi nhánh P (A1) có các số từ (65/78; 60/78; 57/78; 46/78; 45/78; 43/78; 42/78; 39/78; 40/78) thể hiện nội dung bà H đã chuyển trả cho bà B tổng số tiền 545.000.000đ (Năm trăm bốn mươi lăm triệu đồng) của khoản vay 1.200.000.000 đồng, số tiền còn nợ bà B là 655.000.000 đồng, không phải còn nợ số tiền 1.050.000.000 đồng. Còn đối với khoản vay 700.000.000 đồng bà H xác định chỉ còn nợ của bà B số tiền 277.000.000 đồng, không phải nợ số tiền 384.000.000 đồng như bà B đã trình bày. Bà H xác định hai khoản tiền vay trên bà chỉ còn nợ bà B tổng số tiền 932.000.000 đồng. Tuy nhiên lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận.
Các hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng lập các ngày 05-10-2023 và 26-10-2023 do nguyên đơn cung cấp thể hiện bà H, ông T và bà X có vay của bà B các khoản tiền 1.050.000.000 đồng theo giấy hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng ngày 05-10-2023 (BL90) và số tiền 384.000.000 đồng (BL89) theo giấy hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng đề ngày 26-10-2023, hơn nữa bà H cho rằng đã trả cho bà B số tiền 545.000.000 đồng nhưng các lần chuyển khoản này đều trước tháng 10/2023 và không ghi nội dung chuyển khoản trả tiền cho khoản vay nào, tuy nhiên đến ngày 05-10-2023 và 26-10-2023 bà H cũng như ông T và bà X lại tiếp tục ký giấy vay tiền của bà B và chốt số tiền vay là 1.050.000.000 đồng và 384.000.000 đồng mà không trừ đi số tiền đã trả là không phù hợp, Do vậy không đủ căn cứ để xác định bà H đã trả 545.000.000 đồng cho bà B đối với khoản vay 1.200.000.000 đồng.
Ông Hán Xuân T cho rằng không vay tiền của bà B, còn bà Hán Thị X cho rằng bà X cùng bà H vay số tiền 1.200.000.000 đồng của bà B, ngoài ra không có vay thêm khoản tiền nào khác của bà B. Hội đồng xét xử xét thấy, bà H vay tiền bà B để chi vào việc trả nợ chung của gia đình, ông T và bà X biết rõ nên đều tự nguyện ký vào các giấy “Hợp đồng vay đáo hạn ngân hàng” lập ngày 05-10-2023 và 26-10-2023. Do vậy căn cứ các Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015 cần buộc ông T, bà X cùng có trách nhiệm liên đới với bà H trả cho bà B số tiền nợ gốc 1.434.000.000 đồng là phù hợp theo quy định.
Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn bà H cho rằng bị dép buộc ký vào 02 giấy vay tiền trên nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H và bà X cho rằng Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, làm mất quyền khởi kiện của bị đơn khi bị đơn không yêu cầu phản tố nhưng vẫn xem xét số tiền 545.000.000 đồng nên cần huỷ bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy rằng do bị đơn cho rằng cấn trừ đi số tiền bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn 545.000.000 đồng nên HĐXX cấp sơ thẩm nhận định về ý kiến này, HĐXX cấp sơ thẩm không quyết định về nội dung số tiền 545.000.000 đồng. Do đó quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H và bà X không được HĐXX chấp nhận. Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn bà H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới.
Từ những nhận định trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X phải chịu theo quy định
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước;
Áp dụng các Điều 116, 117, 118, 280,288, 429, 463, 466, 468; khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị B.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hán Xuân T, bà Hán Thị X có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị B số tiền gốc 1.434.000.000 đồng, tiền lãi suất là 136.723.622 đồng. Tổng cộng 1.535.750.950đ (Một tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn chín trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3 Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011520 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị X phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011521 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Hạnh |
Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 35/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm
