Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/KDTM-PT

Ngày: 14/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng thi công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang

Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Như Mai

Ông Huỳnh Ngọc Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.

Vào ngày 14/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2024/TLPT-KDTM ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do bản án sơ thẩm số 1479/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6740/2024/QĐPT-KDTM ngày 17 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 689/2025/QĐ-HPT ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Xây dựng công trình Ánh Dương Việt

Địa chỉ: Số G Khu N, đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế Đ; địa chỉ liên hệ: F C, Phường A, quận T, TP H (theo Giấy ủy quyền số 02/UQ-2024 ngày 16/9/2024)

Bị đơn: Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5)

Địa chỉ: Số B Đường P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

1

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, ông Đặng Văn L (Giấy ủy quyền số 14 ngày 24/6/2024).

Người kháng cáo: Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5).

(Ông Nguyễn Thế Đ, ông Lê Trung Vũ M tại phiên toà; ông Đặng Văn L vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Ngày 12 tháng 4 năm 2017, Công ty cổ phần Á và Công ty cổ phần L5 (nay là công ty Cổ phần L4) đã ký Hợp đồng thi công số 82/17-LCG Dự án: BOO Nhà máy N, gói thầu số 07, 08, 09, 10: Thi công Tuyến ống truyền tải nước sạch số 1 và số 2 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng thi công số 82) với giá trị hợp đồng là 39.203.792.000 đồng (bao gồm thuế giá trị gia tăng).

Ngày 01 tháng 9 năm 2017, hai bên ký Phụ lục 01 (Hợp đồng số 82/17-LCG ngày 12/4/2017) gói thầu số 01, 02: Trạm bơm nước thô (XD), Đ1 xuống trạm bơm nước thô và điều chỉnh một số điều khoản của Hợp đồng thi công số 82, theo đó bổ sung thêm công việc, điều chỉnh giá trị của Hợp đồng thi công số 82 là 50.018.654.000 đồng (trong đó có giá trị của Phụ L1 01 là 10.814.862.000 đồng, bao gồm thuế giá trị gia tăng).

Ngày 26 tháng 04 năm 2018, hai bên ký Phụ lục 02 (Hợp đồng số 82/17-LCG ngày 12/4/2017) gói thầu số 01, 02: Thi công tuyến ống truyền tải nước sạch số 1 và số B, theo đó điều chỉnh một số điều khoản của Hợp đồng thi công số 82 tại khoản 3.1 Điều 3: Giá trị hợp đồng còn là 31.102.255.000 đồng (bao gồm thuế giá trị gia tăng).

Ngày 27 tháng 04 năm 2018 hai bên ký Phụ lục 03 (Hợp đồng số 82/17-LCG ngày 12/4/2017) về việc điều chỉnh một số nội dung của Hợp đồng thi công số 82, trong đó có nội dung điều chỉnh giá trị của Hợp đồng thi công số 82 là 49.567.113.000 đồng (đã bao gồm các lần điều chỉnh theo các Phụ lục 01, Phụ lục 02, Phụ lục 03) và hai bên xác định giá trị trên hợp đồng là giá tạm tính, giá trị thanh toán cuối cùng là giá trị căn cứ trên khối lượng hoàn thành thực tế được đại diện hai bên ký xác nhận.

Sau khi Hợp đồng thi công số 82 được ký, nguyên đơn đã tiến hành thi công các hạng mục tuyến truyền tải nước sạch số 1 và số 2 theo phạm vi công việc được quy định tại Điều 1 của hợp đồng. Nguyên đơn tuân thủ tiến độ thi công theo thỏa thuận trong hợp đồng, nguyên đơn và bị đơn cùng tiến hành lập biên bản xác nhận khối lượng công việc hoàn thành để thực hiện việc thanh toán theo hợp đồng. Hiện nay công trình đã được đưa vào sử dụng và các bên chưa quyết toán công trình.

2

Việc xác lập khối lượng công việc hoàn thành và yêu cầu thanh toán được xác lập thành 10 đợt, đợt sau cùng (đợt 10) vào ngày 20/12/2018, tính tới thời điểm này thì giá trị khối lượng hoàn thành thực tế theo Hợp đồng thi công số 82 là 44.600.941.028 đồng và bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn là 38.291.304.267 đồng, số tiền còn lại là 6.309.636.761 đồng, bị đơn chưa trả. Cụ thể: Công nợ của đợt 9: Sau khi các bên ký xác nhận đầy đủ hồ sơ thanh toán của Đợt 9 bao gồm: Đề nghị thanh toán ngày 20/5/2018; Phiếu giá đề nghị thanh toán đợt 9 ngày 20/5/2018; Bảng giá trị khối lượng thực hiện đợt 9 ngày 20/5/2018 thì nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 0028914 ngày 30/5/2018 và bàn giao hồ sơ thanh toán cho bị đơn. Ngày 15/6/2018, bị đơn đã trả cho nguyên đơn là 2.500.000.000 đồng, ngày 06/7/2018 bị đơn đã trả cho nguyên đơn là 2.287.997.813 đồng, số nợ còn lại của đợt 9 là 716.706.326 đồng. Công nợ của đợt 10: Sau khi các bên ký xác nhận đầy đủ hồ sơ thanh toán của Đợt 9 cho bị đơn bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán ngày 20/12/2018; Phiếu giá đề nghị thanh toán đợt 10 ngày 20/12/2018; Bảng giá trị khối lượng thực hiện đợt 10 ngày 20/12/2018; Bảng giá trị khấu trừ ngày 20/12/2018 thì nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 0028916 ngày 20/01/2019 và bàn giao hồ sơ thanh toán cho bị đơn. Số công nợ của đợt 10 là 1.024.852.693 đồng. Theo quy định tại khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng thi công số 82 thì bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thanh toán, nhưng tới nay bị đơn vẫn chưa thanh toán cho nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc của đợt 9 và đợt 10 là 1.741.559.019 đồng.

Về tiền lãi: Tại đơn khởi kiện và biên bản làm việc tại Tòa trên tinh thần hợp tác, hỗ trợ nên trong yêu cầu khởi kiện nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi theo mức lãi suất 0.0191% (tương đương khoảng 7%/năm) từ ngày 01/06/2018 đến ngày 30/09/2020 là 257.097.677 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu về việc trả lãi do chậm thanh toán theo quy định tại tại khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng thi công số 82, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi với mức lãi suất 0.03% giá trị số tiền chậm thanh toán cho mỗi ngày chậm thanh toán. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 26/7/2024, nguyên đơn yêu cầu tiền lãi đối với khoản nợ của đợt 9 là 716.706.326 đồng thì nguyên đơn tự nguyện tính lãi từ ngày 07/7/2018 (ngày bị đơn thanh toán nợ lần cuối cho nguyên đơn là ngày 06/7/2018) đến ngày tòa án xét xử vụ án, tạm tính đến ngày 23/7/2024 là: 716.706.326 đồng x 0.03% x 2.208 ngày = 474.746.270 đồng. Số tiền lãi đối với khoản nợ gốc của đợt 10 là 1.024.852.693 đồng tính từ ngày 01/02/2019 tạm tính đến ngày 23/7/2024 là: 1.024.852.693 đồng x 0.03% x 1.999 ngày = 614.604.160 đồng. Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là: 1.741.559.019 đồng + 1.089.350.430 đồng = 2.830.909.449 đồng. Nguyên đơn yêu cầu kể từ ngày tiếp theo

3

của ngày Tòa án xét xử vụ án cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 0.03%/ngày.

Nguyên đơn xác nhận hồ sơ thanh toán của tất cả các đợt đều không có bản vẽ chi tiết vì thực tế nguyên đơn là nhà thầu phụ, các bản vẽ là do kỹ sư của nguyên đơn và kỹ sư của bị đơn cùng thực hiện tại văn phòng ban điều hành của Công ty L4 tại công trường, sau khi hoàn thiện bản vẽ thì kỹ sư của hai bên ký xác nhận lưu hồ sơ thanh toán cho bị đơn nên nguyên đơn không có bản vẽ này để giao cho bị đơn. Trên cơ sở bản vẽ này, các kỹ sư tính toán và xác định khối lượng. chuyển cho bộ phận kế hoạch áp giá theo hợp đồng đã ký kết, sau đó ra giá trị thanh toán kỳ này. Theo quy định tại khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng thi công số 82“Trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị thanh toán, bên A có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận và thanh toán cho bên B. Nếu có yêu cầu giải trình, bổ sung chứng từ, bên B có trách nhiệm phải đáp ứng. Trong vòng 7 ngày nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ, bên A sẽ thanh toán cho bên B giá trị từng đợt bằng 90% giá trị khối lượng đã thực hiện đã được nghiệm thu...” bị đơn đã nhận hồ sơ thanh toán, đã trả gần hết số nợ nhưng không yêu cầu nguyên đơn bổ sung bản vẽ nên ý kiến của bị đơn về việc nguyên đơn không giao bản vẽ nên bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn là không đúng.

Đối với khoản nợ 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 18/4/2018 thì nguyên đơn không đồng ý vì thực tế, nguyên đơn không vay số tiền này, người nhận tiền là ông Dương Ngọc L2 không phải là người được nguyên đơn ủy quyền cho nhận tiền. Việc nguyên đơn gửi Công văn số 12-2018/CV-ADV ngày 14/12/2018 cho bị đơn là nhằm mục đích để bị đơn thanh toán tiền thi công cho nguyên đơn.

Tại bản khai, các biên bản của Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn là Công ty cổ phần L4 trình bày: Ngày 12 tháng 4 năm 2017 nguyên đơn và bị đơn đã ký Hợp đồng thi công số 82/17-LCG Dự án BOO nhà máy N, 08, 09, 10 thi công dự án truyền tải nước sạch và các phụ lục hợp đồng như nguyên đơn khai nhận.

Tại phiên tòa, bị đơn xác nhận bị đơn đã nhận hồ sơ thanh toán và đã thanh toán các đợt 1 đến đợt 8 cho nguyên đơn, đối với công nợ của đợt 9, bị đơn đã thanh toán 02 lần và còn nợ số tiền 716.706.326 đồng, đợt 10 còn nợ số tiền 1.024.852.693 đồng. Lý do bị đơn không thanh toán hết số tiền của đợt 9, đợt 10 là do hồ sơ thanh toán còn thiếu bản vẽ theo quy định tại khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng thi công số 82. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn vì hồ sơ thanh toán chưa đầy đủ nên không phát sinh nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ trả lãi. Bị đơn yêu cầu được cấn trừ số nợ 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 18/4/2018 và Công văn số 12-2018/CV-ADV ngày 14/12/2018 của Ánh Dương V1 gửi cho L3 vào số nợ của đợt 9, đợt 10.

4

Ngày 29/7/2024, bị đơn có văn bản số 268/CV-LIZEN-PL&KSNB về việc đề nghị Tòa án tạm dừng giải quyết vụ án với lý do bị đơn phát hiện có dấu hiệu tham nhũng của một số nhân viên công ty cổ phần L4 nhằm chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 18/4/2018 và bị đơn đang thực hiện thủ tục trình báo cơ quan chức năng để được giải quyết.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm 1479/2024/KDTM-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh đã tuyên:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Á.

Buộc Công ty cổ phần L4 phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Á số tiền nợ của đợt 9, đợt 10 theo đồng thi công số 82/17-LCG Dự án BOO Nhà máy N, 08, 09, 10 thi công dự án truyền tải nước sạch số 1 và số 2 ngày 12/4/2017 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Á và Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5) là 2.834.566.723 đồng (hai tỉ tám trăm ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 1.741.559.019 đồng (một tỉ bảy trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm năm mươi chín nghìn không trăm mười chín đồng) và tiền lãi là 1.093.007.704 đồng (một tỉ không trăm chín mươi ba triệu không trăm linh bảy nghìn bảy trăm linh bốn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử vụ án cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần L4 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 0.03%/ngày.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty cổ phần L4 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 88.691.334 đồng (tám mươi tám triệu sáu trăm chín mốt nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 35.980.000 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Á theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0088906 ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ án thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/8/2024, Công ty cổ phần L4 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, với lý do Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh chưa xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy bản sơ

5

thẩm do Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không đánh giá khách quan các chứng cứ, không đảm bảo lẽ công bằng đối với bị đơn.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • - Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1479/2024/KDTM-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cùng lời trình bày của các đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng thi công số 82/17-LCG Dự án BOO nhà máy N, gói thầu số 07, 08, 09 thi công dự án truyền tải nước sạch và các phụ lục hợp đồng số 01 ngày 01/9/2017, phụ lục hợp đồng số 02 ngày 26/4/2018, phụ lục hợp đồng số 03 ngày 27/4/2018. Nội dung hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên đã phát sinh hiệu lực buộc các bên phải thi hành.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, nguyên đơn đã thực hiện đúng tiến độ thi công theo thoả thuận trong hợp đồng, đồng thời nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành lập biên bản xác nhận khối lượng công việc hoàn thành để thực hiện việc

6

thanh toán theo hợp đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn thừa nhận chưa thanh toán cho nguyên đơn số nợ gốc là 1.741.559.019 đồng, tuy nhiên bị đơn chưa thanh toán số tiền trên theo hợp đồng cho nguyên đơn vì lý do hồ sơ thanh toán không có bản vẽ.

Phía nguyên đơn cho rằng các bên có bản vẽ chi tiết để làm cơ sở xác định khối lượng thi công nhưng bị đơn không yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp bản vẽ của từng đợt thi công. Do đó trong hồ sơ thanh toán không có bản vẽ của từng đợt thi công kể từ lần thanh toán đầu tiên đến đợt thanh toán thứ 8.

Căn cứ vào khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng thi công số 82 thì “Trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị thanh toán, bên A có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận và thanh toán cho bên B. Nếu có yêu cầu giải trình, bổ sung chứng từ, bên B có trách nhiệm phải đáp ứng. Trong vòng 7 ngày nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ, bên A sẽ thanh toán cho bên B giá trị từng đợt bằng 90% giá trị khối lượng đã thực hiện đã được nghiệm thu...”

Do đó, việc bị đơn viện lý do không thanh toán số tiền hợp đồng của đợt 9, 10 như trên là không có cơ sở.

[2.2] Về việc trả lãi suất do chậm thanh toán:

Xét thấy Hợp đồng thi công số 82 thuộc phạm vi điều chỉnh theo quy định của Điều 306 Luật Thương mại 2005, tuy nhiên căn cứ theo quy định tại Điều 3.2 của hợp đồng thì các bên đã thoả thuận việc thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán là 0.03%/ngày. Xét thấy việc thoả thuận của các bên không trái quy định của pháp luật nên Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh áp dụng mức lãi suất 0.03%/ngày đối với số nợ gốc của đợt 9 và đợt 10 là có cơ sở.

[2.3] Đối với việc bị đơn yêu cầu nguyên đơn cấn trừ số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 18/4/2018, xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có đơn yêu cầu phản tố đối với yêu cầu cấn trừ này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.4] Qua xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy nhận định của Toà án cấp sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật về việc buộc bị đơn phải thanh toán công nợ phát sinh từ hợp đồng thi công số 82 và tiền lãi do chậm thanh toán, với tổng số tiền là 2.834.566.723 đồng. Mặt khác, bị đơn kháng cáo với lý do Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh chưa xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu trong vụ án và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng tại phiên toà phúc thẩm bị đơn không có căn cứ chứng minh việc vi phạm tố tụng của Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh. Do không có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

7

[3]. Về án phí: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần L4 (tên cũ Công ty L5).

Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1479/2024/KDTM-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Áp dụng các Điều 30, 38, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Á.

Buộc Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5) phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Á số tiền nợ của đợt 9, đợt 10 theo hợp đồng thi công số 82/17-LCG Dự án BOO Nhà máy N, 08, 09, 10 thi công dự án truyền tải nước sạch số 1 và số 2 ngày 12/4/2017 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Á và Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5) là 2.834.566.723 đồng (hai tỉ tám trăm ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 1.741.559.019 đồng (một tỉ bảy trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm năm mươi chín nghìn không trăm mười chín đồng) và tiền lãi là 1.093.007.704 đồng (một tỉ không trăm chín mươi ba triệu không trăm linh bảy nghìn bảy trăm linh bốn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử vụ án cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần L4 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 0.03%/ngày.

[2] Về án phí:

[2.1] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5) phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 88.691.334 đồng (tám mươi tám triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 35.980.000 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Á theo biên lai thu tạm

8

ứng án phí số AA/2019/0088906 ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2.2] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty cổ phần L4 (tên cũ: Công ty cổ phần L5) phải chịu án phí phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028972 ngày 28/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Đoan Trang

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/KDTM-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 30/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger