|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HSST Ngày 30/12/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Hoàng Xuân Dũng
- 2. Ông: Phan Văn Thóc
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Lâm Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4- Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/HSST, ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Hà S
Sinh năm: 1970, tại tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Nhù Te, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Hà Nhì;
Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Lù Pờ H (đã chết) và con bà: Pờ Lỳ P (sinh năm 1945) hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Nhù Te, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu.
Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Vợ, con: Vợ Lỳ Gia X (đã chết) và bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2005.
Hiện các con bị cáo đang sinh sống tại bản Nhù Te, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/06/2025, đến ngày 25/06/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại giam Công an tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
*Người làm chứng: Ông: Sì Pé Nh - Sinh năm 1997
Trú tại: Bản Lé Ma, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu.
(Vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà: Nông Thị Minh Hạnh - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 09 giờ, ngày 22/6/2025, Lù Hà S, sinh năm 1970, đi bộ từ nhà ở, ở bản Nhù Te, xã Thu Lũm đến khu dân cư Nặm Păm thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine đem về sử dụng. Khi S đi đến cây xăng thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè thì gặp Sĩ Pé Nh, sinh năm 1997, trú tại bản Lé Ma, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu (là người quen của S). S đã nhờ Nh dùng xe mô tô chở S đi đến khu dân cư Nậm Pặm. S không nói cho Nh biết mục đích của mình đi tìm mua Heroine. Nh đã đồng ý rồi điều khiển xe mô tô chở S đi đến địa điểm nói trên. Khi đến khu vực dân cư Nậm Pặm, S bảo Nh dừng xe và đứng đợi S ở ngoài đường ô tô, còn S đi bộ vào khu dân cư Nậm Pặm thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Trong lúc S đang đi bộ trên đường ở khu dân cư Nậm Pặm, thì gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt (S không biết họ, tên, địa chỉ, lai lịch của người này). Qua trao đổi, S đã lấy trong người ra đưa cho người phụ nữ lạ mặt 200.000 đồng để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Sau khi nhận tiền, người phụ nữ bảo S đợi tại đó, rồi người phụ nữ lạ mặt bỏ đi được khoảng 05 phút sau quay lại đưa S 01 gói Heroine được gói sẵn bằng mảnh nilon màu trắng. Sau khi mua được Heroine, S nhặt lấy 03 mảnh nilon màu trắng gói thêm bên ngoài, rồi cho bên trong vỏ bao thuốc lào nhãn hiệu Xuân Tiếp, rồi cất giấu trong túi quần bên phải mà S đang mặc, quay trở lại chỗ Nh đang chờ và bảo Nh chở về nhà (S không nói cho Nh biết việc mua bán Heroine nói trên). Nh đồng ý và tiếp tục điều khiển xe chở S về bản Nhù Te, xã Thu Lũm.
Đến hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến bản Là Ú Cò, xã Ka Lăng (nay là bản Là Ú Cò, xã Thu Lũm), thì bị Tổ công tác Công an xã Ka Lăng (nay là Công an xã Thu Lũm) đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải của S đang mặc trên người toàn bộ số vật chứng nói trên. Trước sự việc trên, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo như đã nêu trên.
Tại kết luận giám định số 533/KL-KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: "Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Hà Sơn có khối lượng 0,6 gam; Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Hà S gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSKV4 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Hà S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):
c) ) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
......
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lù Hà S theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng 0,6 gam là Heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/06/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 38; Điều 50; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 02 tháng đến 01 (một) năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) và đề nghị xử lý vật chứng như sau: Căn cứ vào Điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy:
- - 04 mảnh nilon màu trắng.
- - 01 vỏ bao thuốc lào nhãn hiệu Xuân Tiếp.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đã đưa ra một số luận cứ bào chữa cho bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị mức hình phạt của VKS. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối bị cáo. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
* Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,6 (không phẩy sáu) gam heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét qua trình tham gia tố tụng của người bào chữa cho bị cáo tiền hành đều hợp pháp, xét quan điểm bào chữa của bào chữa viên HĐXX thấy rằng việc đề xuất áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51BLHS đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị mức hình phạt của VKS. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết luận giám định số 533/KL-KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo S gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Vào hồi 16 giờ 10 phút ngày 22/6/2025, tại bản Là Ú Cò, xã Ka Lăng (nay là bản Là Ú Cò, xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu), Lù Hà S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,6 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an xã Ka Lăng (nay là Công an xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu) phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lù Hà S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, học hết lớp 03/12 học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương, coi thường pháp luật. Với khối lượng ma túy 0,6 gam của bị cáo tàng trữ để sử dụng việc đề nghị của VKS áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 02 tháng đến 01 (một) năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, HĐXX xét thấy là có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không
[6] Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Đối với gói heroine thu giữ khi bắt quả tang của bị cáo S có khối lượng 0,6 gam: Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định không hoàn lại mẫu vật theo đúng quy định của pháp luật.
- Vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy:
- - 04 mảnh nilon màu trắng.
- - 01 vỏ bao thuốc lào nhãn hiệu Xuân Tiếp.
[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
[8] Về án phí: HĐXX xét miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Trong vụ án này:
- Về nguồn gốc 0,6 gam Heroine: Lù Hà S khai nhận mua được người phụ nữ lạ mặt, không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Đối với Sừng Pé Nh: Do Nh không biết S mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nh là đúng quy định của pháp luật. Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/06/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Lù Hà S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/06/2025.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.Tịch thu tiêu hủy:
- - 04 mảnh nilon màu trắng.
- - 01 vỏ bao thuốc lào nhãn hiệu Xuân Tiếp.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |
Bản án số 30/2025/HSST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 30/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lù Hà Sơn tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 BLHS
