|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HSST Ngày: 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Quang Liêm;
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt Bách - Kiểm sát viên;
Ngày 25 tháng 02 năm 2025; tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Minh H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1997; tại: Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 156/55/46 L, phường H, quận L, TP .; Chỗ ở hiện nay: phòng 110, nhà T L, phường T, quận T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Mai Hùng V, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1975; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Kim T, sinh năm 2003; Chỗ ở: A N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Chị Hoàng Diệp Trâm A, sinh năm 1991; Chỗ ở: B ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1995; Chỗ ở: C ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01/2024, do không có việc làm ổn định nên Mai Minh H bắt đầu hoạt động cho khách vay tiền đứng với lãi suất từ 20% đến 30%/tháng (tương đương 240% đến 360%/năm) để thu lợi bất chính với hình thức khi có khách liên hệ vay tiền thì H yêu cầu khách vay tiền đưa điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone để H đăng nhập tài khoản Icloud maiminhhuyhp97@icloud.com của H vào điện thoại của khách, đến khi nào khách vay trả số tiền gốc thì H sẽ đăng xuất tài khoản I. Nếu khách vay không trả tiền hoặc trốn thì H sẽ sử dụng tính năng của I để vô hiệu hóa điện thoại của khách. H đưa tiền cho khách vay bằng tiền mặt hoặc sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] tên Mai Minh H và tài khoản Momo tên Mai Minh H liên kết với thuê bao số 0788 451 926 để chuyển tiền vào tài khoản của khách vay tiền, nhận tiền đóng lãi của khách vay. Từ tháng 01/2024 đến tháng 08/2024, H cho 05 khách vay lãi nặng như sau:
Khách hàng Phạm Kim T:
Khoảng tháng 01/2024, chị T vay H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay lãi đứng theo quy ước thì 10 ngày chị T phải đóng tiền lãi 1 lần là 1.000.000 đồng đến khi trả hết tiền gốc là thanh toán xong khoản vay. Lúc này, H đăng nhập tài khoản Icloud của H trên máy Iphone 13 Promax của chị T để quản lý. Sau khi vay tiền thì chị Kim T sử dụng tài khoản ngân hàng A2 số 7202205219932 và tài khoản ngân hàng Q số 0828231712 cùng mang tên Phạm Kim T chuyển tiền lãi vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] tên Mai Minh H. Chị Kim T đã chuyển tiền lãi cho H tổng cộng là 20.900.000 đồng. Lãi suất cho khoản vay này của chị Kim T là 30%/tháng tương đương 360%/năm; tổng số tiền H thu lợi bất chính được là 19.738.888 đồng.
Khách hàng Hoàng Hiệp Trâm A1:
Khoảng tháng 03/2024, chị Trâm A1 vay H số tiền 20.000.000 đồng bằng hình thức vay lãi đứng theo quy ước thì 30 ngày chị Trâm A1 phải đóng tiền lãi 1 lần là 4.500.000 đồng đến khi trả hết tiền gốc là thanh toán xong khoản vay. Lúc này, chị A1 đưa giấy đăng ký hôn (bản chính) đưa H giữ để làm lòng tin. Sau khi vay tiền thì chị Trâm A1 sử dụng tài khoản Momo liên kết với thuê bao số 0933.995.464 chuyển tiền lãi vào tài khoản M tên Mai Minh H liên kết với thuê bao số 0788.451.926. Tính
đến ngày 22/5/2024, chị Trâm A1 đã chuyển cho H 02 lần tiền lãi với tổng số tiền 9.000.000 đồng. Lãi suất khoản vay này của chị Trâm A1 là 22,5%/tháng tương đương 270%/năm; số tiền H thu lợi bất chính được là 8.333.333 đồng.
Đến tháng 6/2024, H giảm tiền lãi đứng, tức là 30 ngày chị Trâm A1 phải đóng tiền lãi 1 lần là 4.000.000 đồng. Chị Trâm A1 đã chuyển cho H 03 lần tiền lãi với tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Lãi suất của khoản vay này của chị Trâm A1 là 20%/tháng tương đương 240%/năm; số tiền H thu lợi bất chính là 10.999.970 đồng.
Tổng số tiền H thu lợi bất chính đối với khách vay này được là 19.333.300 đồng.
Khách hàng N (chưa rõ lai lịch):
Khoảng tháng 04/2024, N vay H số tiền 15.000.000 đồng bằng hình thức vay lãi đứng theo quy ước thì 10 ngày N phải đóng tiền lãi 1 lần là 1.200.000 đồng đến khi trả hết tiền gốc là thanh toán xong khoản vay. Lúc này, H đăng nhập tài khoản Icloud của H trên máy Iphone 13 Pro của N để quản lý. Sau khi vay tiền thì N chuyển khoản đóng tiền lãi cho H được 12 lần với tổng số tiền là 14.400.000 đồng. Lãi suất khoản vay này của N là 24%/tháng tương đương 288%/năm. Số tiền H thu lợi bất chính là 13.400.000 đồng.
Khách hàng Nguyễn Thành L:
Khoảng tháng 05/2024, anh L vay H số tiền 10.000.000 đồng bằng hình thức vay lãi đứng theo quy ước thì 10 ngày anh L phải đóng tiền lãi 1 lần là 800.000 đồng đến khi trả hết tiền gốc là thanh toán xong khoản vay. Lúc này, H đăng nhập tài khoản Icloud của H trên máy Iphone 12 Promax của L để quản lý. Sau khi vay tiền thì anh L sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 07887066666 tên Lê Hiếu T1 (bạn gái anh L) chuyển tiền lãi vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] tên Mai Minh H. Anh L đã đóng tiền lãi cho H được 10 lần với tổng số tiền là 8.000.000 đồng. Lãi suất khoản vay này của L là 24%/tháng tương đương 288%/năm; tổng số tiền H thu lợi bất chính từ việc cho L vay tiền là: 7.444.444 đồng.
Khách hàng K (chưa rõ lai lịch):
Ngày 13/8/2024, K vay H số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức vay lãi đứng theo quy ước thì 10 ngày K phải đóng tiền lãi 1 lần là 400.000 đồng đến khi nào K trả hết tiền gốc là thanh toán xong khoản vay. Lúc này, H đăng nhập tài khoản Icloud của H trên máy Iphone 11 Promax của K để quản lý. K đã chuyển khoản tiền lãi cho H được 01 lần với tổng số tiền 400.000 đồng. Lãi suất khoản vay này của K là 24%/tháng tương đương 288%/năm; tổng số tiền H thu lợi bất chính từ việc cho K vay tiền là 372.222 đồng.
Đến ngày 28/8/2024, khi H đang ở trước nhà số A L, phường H, quận T do có biểu hiện nghi vấn nên bị Tổ tuần tra 363 thuộc Công an Thành phố H kiểm tra hành chính phát hiện H có hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T để làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Mai Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax. Là công cụ H sử dụng với mục đích cho vay lãi nặng.
- Số tiền 46.516.637 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính do Mai Minh H nộp lại.
Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 276 ngày 12/11/2024 và phiếu nhập kho số 32 ngày 31/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T (Bút lục D, 43).
Về phần dân sự:
- Chị Phạm Kim T trình bày: xin trả lại tiền gốc cho Mai Minh H và không yêu cầu nhận lại tiền thu cao hơn quy định. (Bút lục 257)
- Chị Hoàng Hiệp Trâm A1 trình bày: yêu cầu Mai Minh H trả lại số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay tiền với lãi suất cao (Bút lục 194 - 195).
- Anh Nguyễn Thành L trình bày: yêu cầu Mai Minh H trả lại số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay tiền với lãi suất cao.
Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSQ.TP ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Mai Minh H về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Mai Minh H từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
Bị cáo Mai Minh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với Bản kết luận điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 01/2024 đến ngày 13/8/2024, Mai Minh H đã có hành vi cho chị Phạm Kim T, chị Hoàng Hiệp Trâm A1, anh Nguyễn Thành L vay tiền với lãi suất cao từ 12 lần đến 18 lần so với mức lãi suất cao nhất (20%) mà pháp luật cho phép trên địa bàn quận T, với tổng số tiền thu lợi bất chính là 46.516.637 đồng thì bị phát hiện.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mai Minh H về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng thậm chí phải bán tài sản để trả nợ. Thiết nghĩ, cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã nộp lại tiền thu lợi bất chính là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Đối với khách vay tên N, K (không rõ lai lịch) hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thực hiện hết hoạt động điều tra nhưng vẫn chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng báo truy tìm (bút lục 19A, 19B) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý H về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” đối với số tiền thu lợi bất chính 13.720.000 đồng là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra chị Phạm Kim T, chị Hoàng Diệp Trâm A, anh Nguyễn Thành L và bị cáo không yêu cầu giải quyết đối với các Hợp đồng vay tài sản. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Khi nào các bên có tranh chấp đối với các Hợp đồng vay tài sản thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự riêng biệt khi các bên có yêu cầu.
[7] Về biện pháp tư pháp:
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tổng số tiền gốc mà bị cáo cho 03 người vay là: 40.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, nên buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất mà bị cáo đã thu của 03 người vay là: 46.516.637 đồng (số tiền thu lợi bất chính). Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao tuyên trả lại cho người vay. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho những người vay, cụ thể như sau:
- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Phạm Kim T số tiền: 19.738.888 đồng.
- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Hoàng Hiệp T2 Anh số tiền: 19.333.300 đồng.
- Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Thành L số tiền: 7.444.444 đồng.
- Buộc chị Phạm Kim T nộp lại số tiền: 11.161.111 đồng (bao gồm: 10.000.000 đồng tiền vay gốc và 1.161.111 đồng tiền lãi hợp pháp) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc chị Hoàng Hiệp T2 Anh nộp lại số tiền: 21.666.667 đồng (bao gồm: 20.000.000 đồng tiền vay gốc và 1.666.667 đồng tiền lãi hợp pháp) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc anh Nguyễn Thành L nộp lại số tiền: 10.555.556 đồng (bao gồm: 10.000.000 đồng tiền vay gốc và 555.556 đồng tiền lãi hợp pháp) để sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax. Là công cụ H sử dụng với mục đích cho vay lãi nặng. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 46.516.637 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính do Mai Minh H nộp lại. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 276 ngày 12/11/2024 và phiếu nhập kho số 32 ngày 31/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T (Bút lục D, 43).
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Đối với án phí dân sự sơ thẩm: trong vụ án này không có người bị hại, những người mà bị cáo cho vay được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc tuyên trả số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cho phép cho những người vay chỉ là trả lại phần tài sản do bị cáo đã thu lợi bất chính mà không được xác định là bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì đây chỉ là biện pháp tư pháp được áp dụng với người phạm tội. Theo quy định tại Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được xác định trong trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự trong vụ án hình sự. Do đó, bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: bị cáo Mai Minh H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[3] Xử phạt: bị cáo Mai Minh H 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng. Tiền phạt được nộp ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật để nộp vào ngân sách nhà nước.
Trong trường hợp bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ nộp phạt thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm nộp phạt, tương ứng với thời gian chậm nộp phạt, lãi suất phát sinh do chậm nộp phạt được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Buộc bị cáo Mai Minh H phải nộp lại số tiền: 40.000.000 đồng (số tiền gốc mà bị cáo cho vay) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Phạm Kim T số tiền: 19.738.888 đồng.
- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Hoàng Hiệp T2 Anh số tiền: 19.333.300 đồng.
- Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Thành L số tiền: 7.444.444 đồng.
- Buộc chị Phạm Kim T nộp lại số tiền: 11.161.111 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc chị Hoàng Hiệp T2 Anh nộp lại số tiền: 21.666.667 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Buộc anh Nguyễn Thành L nộp lại số tiền: 10.555.556 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền: 46.516.637 đồng mà bị cáo đã nộp để bảo đảm cho việc trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 276 ngày 12/11/2024 và phiếu nhập kho số 32 ngày 31/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP ..
[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Mai Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo Mai Minh H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 30/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 30/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng
