Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Số: 30/2025/HSST

Ngày: 24- 3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ung Thị Ngọc Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Lương Thị Thu An

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Hồng Huế – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Phước Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/HSST- QĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn H, tên gọi khác: không.

Sinh ngày 29 tháng 3 năm 1990, tại tỉnh Thanh Hóa.

Căn cước công dân số [...] được Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 26 tháng 10 năm 2023.

Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam,Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: không,Chức vụ: không, Trình độ học vấn: 7/12.

Họ và tên cha: Ngô Văn L, sinh năm 1950, đã chết;

Họ và tên mẹ: Hách Thị T, sinh năm 1950;

A, chị: có 03 người; lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1984.

Tiền sự: không.

Tiền án: 01.

Tại Bản án số 94/2024/HSST ngày 02 tháng 5 năm 2024, H bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là thành phố B, tỉnh Bình Dương) xử phạt 10 tháng về tội Trộm cắp tài sản. H thi hành án phạt tù xong ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại Trại giam P, tỉnh Bình Dương.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 27 ngày 24 tháng 8 năm 2011, H bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. H chấp hành xong phần án phí ngày 11 tháng 10 năm 2011.

- Tại Bản án số 10 ngày 05 tháng 4 năm 2013, H bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù treo tại Bản án số 27 ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định thì H phải thi hành án là 45 tháng tù. H chấp hành xong phần án phí ngày 25 tháng 4 năm 2013.

- Tại Bản án số 242b ngày 27 tháng 11 năm 2017, H bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm”. H chấp hành xong hình phạt ngày 29 tháng 02 năm 2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2024 cho đến nay;

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1971, trú tại tổ G, khu phố G, phường H, thị xã C, Bình Phước.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Tấn Đ, sinh năm 1977, trú tại tổ A, khu phố R, phường A, TP B, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 28 tháng 11 năm 2024, Ngô Văn H điều khiển xe mô tô loại Wave, màu xanh, số khung R1110 – 10010237, số máy LC152FMH00031516, biển kiểm soát 79N3 – 2845 đi ăn sáng tại quán “Bún bò cô 5” thuộc tổ G, khu phố G, phường H, thị xã C của bà Huỳnh Thị H1 làm chủ. Sau khi ăn xong, H trả tiền và thấy trong rổ đựng rau, trong tủ kiếng tại vị trí bán đồ ăn sáng có 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Samsung A06 (sau đây viết gọn là điện thoại Samsung A06). H thấy bà H1 đang bán thức ăn cho khách nên H lấy trộm điện thoại Samsung A06 bỏ vào túi quần phía trước bên trái. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hướng tỉnh Bình Dương để tìm nơi cầm cố điện thoại Samsung A06. Khoảng 10 giờ cùng ngày, bà H1 phát hiện bị mất điện thoại Samsung A06 nên xem lại Camera của quán, gọi vào số thuê bao 0989.297.850 của bà H1 thì H nghe máy. Bà H1 nói “ai nhặt được cái máy thì cho chuộc lại”; nghe vậy, H trả lời: “chuộc hai triệu”. Tuy nhiên, bà H1 không đồng ý nên đến Công an phường H tố giác. Còn đối với H tiếp tục điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ “Tiến Đạt” của ông Trần Văn Đ1 làm chủ tại tổ A, khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương cầm cố điện thoại Samsung A06 được 1.700.000 đồng. Sau khi viết giấy cầm cố, Hoàng tháo S.I.M điện thoại Samsung A06 cất trong người rồi về lại phường T, thị xã C. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đang cắt tóc phường T thì lực lượng Công an đến mời tôi về trụ sở để làm việc.

Tang vật, tài sản thu giữ được: 1.619.000 đồng, 01 giấy cầm đồ, 01 S.I.M số 0989.297.850, 01 điện thoại Samsung A06 do ông Trần Văn Đ1 tự nguyện giao nộp.

Bản kết luận định giá tài sản số: 68/KLĐGTS-HĐĐGTS ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C xác định giá trị của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A06, màu xanh, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.300.000 đồng (Bút lục số: 23, 35, 48. 57, 89. 90. 92, 95, 99).

T1, tạm giữ vật chứng, tài sản: 1.619.000 đồng; 01 nón bảo hiểm, màu xanh-trắng, có in chữ HEAD ANGIMEX; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, số khung R1110–10010237 (số khung nguyên thủy RT110-Y0010297), số máy LC152FMH00031516; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, có S.I.M số 0896.578.293, IMEI 1: 351864450628346; 01 USB (đã được niêm phong) lưu trữ hình ảnh được trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh Ngô Văn H thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 28 tháng 11 năm 2024.

Biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

Bà Huỳnh Thị H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A06, màu xanh.

Đối với số tiền 1.700.000 đồng mà H cầm cố điện thoại di động do phạm tội mà có cho ông Trần Văn Đ1. Ông Đ1 không yêu cầu H phải hoàn trả.

Bản cáo trạng số 19/CTr-VKS, ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố .

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 38, 50 khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo H mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại theo qui định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Do bà Huỳnh Thị H1, ông Trần Văn Đ1 có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Tuy đã bị nhiều lần xét xử về tội chiếm đoạt tài sản, mới mãn hạn tù chưa đầy hai tháng, thấy bà H1 sơ hở, Ngô Văn H đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu Samsung A06 có trị giá 2.300.000đ của bà H1; Đối chiếu với qui định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố đối Ngô Văn H theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 02 tháng 5 năm 2024, Ngô Văn H bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là thành phố B, tỉnh Bình Dương) xử phạt 10 tháng về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 94/2024/HSST. H thi hành án phạt tù xong ngày 03 tháng 10 năm 2024, lần phạm tội này, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên phải chiu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải ở mức hạn chế, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra.

Ông Trần Văn Đ1 không yêu cầu H phải hoàn trả số tiền 1.700.000 đồng mà H cầm cố điện thoại lại nên trách nhiện dân sự không đặt ra.

[5] Về xử lý vật chứng:

Số tiền 1.619.000 đồng tạm giữ của bị cáo, là khoản tiền bị cáo cầm chiếc điện thoại trộm được mà có, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, số khung R1110 – 10010237 (số khung nguyên thủy RT110-Y0010297), số máy LC152FMH0003151601 theo kết quả giám định không truy nguyên được số máy, bị cáo dùng chiếc xe này để mang tài sản trộm được đi tiêu thụ, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; chiếc nón bảo hiểm, màu xanh-trắng, có in chữ HEAD ANGIMEX bị cáo không yêu cầu nhận lại, hiện không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí: Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38; 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước Số tiền 1.619.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, số khung R1110 – 10010237 (số khung nguyên thủy RT110-Y0010297), số máy LC152FMH0003151601 tạm giữ của bị cáo; tịch thu tiêu hủy chiếc nón bảo hiểm, màu xanh-trắng, có in chữ HEAD ANGIMEX tạm giữ cảu bị cáo.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ung Thị Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trom
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger