TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HSST Ngày: 23/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Huy Hoàng: Phó trưởng phòng giáo dục thị xã Hương Trà, thành phố Huế.
Ông Lê Văn Hướng: Hạt trưởng hạt kiểm lâm thị xã Hương Trà, thành phố Huế.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố Huế.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng và ông Lê Quang Phú- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H (Số E đường Đ, thị xã H, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2025, đối với bị cáo:
Trịnh Châu T; sinh ngày 03/4/2004 tại thành phố H; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thị xã H, thành phố H; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không rõ; con bà: Trịnh Thị Minh S; vợ con: Không.
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình tại tổ dân phố A, phường T, thị xã H, thành phố H, học hết lớp 06 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 23/01/2024, có hành vi hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bị Công an phường T ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 29/01/2024, có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bị Công an phường T ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 15/4/2024, có hành vi hành vi “Ném gạch đá vào nhà ở” bị UBND phường T ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng. Ngày 15/4/2024, có hành vi “Hủy hoại tài sản” bị UBND phường T ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng.
Tiền án: Không; tiền sự: 04.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 03/4/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Cháu Thị Nguyễn Phi L, sinh năm 2010. Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Thị Bích E (mẹ của bị hại). Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thị xã H, thành phố H, có mặt.
Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trương Thị Hồng N: Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Trần Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.
Chị Trịnh Thị Ngọc Y, sinh năm 1999; nơi cư trú: A, P, thị xã P, thành phố H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 07/01/2025, Trịnh Châu T ngồi chơi cùng với cháu Thị Nguyễn Phi L tại quán B, đường C, phường T, thị xã H. Đến khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, T cùng cháu L đến Công viên phường T để ngủ. Do cần tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động Iphone 8 plus của cháu L. T sợ nếu lấy trộm điện thoại sẽ bị L phát hiện vì L và T có quen biết nhau nên đưa ra kế hoạch chiếm đoạt điện thoại của cháu L bằng thủ đoạn gian dối như sau: T giả vờ mượn điện thoại để chơi game, sau đó lợi dụng lúc cháu L ngủ say thì cất giấu điện thoại, khi L tỉnh dậy, T sẽ nói dối đã trả điện thoại, nhưng do L ngủ say nên bị người khác lấy mất. Sau khi nảy sinh ý định, T đánh thức cháu L dậy và nói: “Trời lạnh quá, ngủ không được, cho anh mượn điện thoại để chơi game”, thì L đồng ý và đưa điện thoại cho T. T cầm điện thoại giả vờ chơi game, chờ đến khi cháu L ngủ say thì tắt nguồn máy và đem điện thoại giấu phía dưới một trụ đèn trong công viên, cách vị trí nghỉ khoảng 15 mét. Sau khi cất điện thoại, T đi đến quán bún dì T1 mua chai nước rồi trở lại công viên và đánh thức cháu L dậy. T giả vờ hỏi “Ê Phôn, điện thoại mi tau bỏ sau lưng mi mô rồi”, cháu L đáp “Em đưa cho anh rồi, anh bị ngáo à”, T tiếp tục nói: “Mi điên à, tau khát nước quá, tau có kêu mi là tau bỏ điện thoại sau lưng mi mà. Xong tau chạy đi mua nước luôn. Tau thấy có ông mô đi ngang qua, cúi xuống buộc dây giày xong ông đi.” Nghe vậy, L liền chạy quanh công viên tìm điện thoại. T cũng giả vờ đi tìm cùng. Sau khi không thể tìm thấy điện thoại, cả hai tiếp tục đến quán dì T1 uống nước và vào quán nét “Q” ở đường H, phường T để chơi game.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T nói với cháu L “anh đi đây có việc”, rồi T đi một mình ra công viên T, lấy chiếc điện thoại iPhone 8 Plus đã cất giấu trước đó và mang đến tiệm điện thoại “Tiến Quý” tại chợ A, thị xã P bán với giá 1.500.000 đồng. Số tiền có được, T dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá số 06/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận 01 điện thoại iPhone 8 Plus tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là: 2.250.000 đồng.
Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại di động Iphone 8 plus có số Imei 356113097045018.
Xử lý vật chứng: Ngày 05/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả cho chủ sở hữu là cháu Thị Nguyễn Phi L 01 điện thoại di động Iphone 8 plus có số Imei 356113097045018.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Trịnh Châu T đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 1.500.000 đồng là số tiền T đã bán điện thoại di động Iphone 8 plus. Chị H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSHTr ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H quyết định truy tố bị cáo Trịnh Châu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Châu T từ 04 tháng đến 05 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/4/2025.
Về bồi thường thiệt hại: Do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương ứng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trịnh Châu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi của bị cáo Trịnh Châu T có ý thức chiếm đoạt điện thoại của cháu Thị Nguyễn Phi L từ trước, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối giả vờ mượn điện thoại để sử dụng nhưng sau đó đem cất dấu và bán cho người khác, giá trị của điện thoại bị chiếm đoạt là 2.250.000 đồng. Hành vi này đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Châu T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:
Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên được áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt thấp hơn khung hình phạt được áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, trong thời gian ngắn từ ngày 23/01/2024 đến ngày 15/4/2024 đã 4 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có 2 lần liên tiếp (cách nhau 06 ngày) bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do đó cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe, giáo dục, giúp bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy.
[6] Đối với hành vi của chị Trần Thị Ngọc Y1 là người đã mua điện thoại nhưng không biết điện thoại do T phạm tội mà có nên không đồng phạm với T và không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhắc nhở rút kinh nghiệm là đúng quy định pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 8 plus có số Imei 356113097045018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Ngọc Y1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường. Chị Y1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Châu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Trịnh Châu T 05 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/4/2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trịnh Châu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Huế |
Bị cáo đang nuôi còn nhỏ, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và pháp luật.
Không phải tình tiết giảm nhẹ mà là điều kiện được hoãn THA
(Điều 12 NĐ144)
Điều 12. Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
- i) Nhận cầm cố tài sản nhưng không lập hợp đồng cầm cố theo quy định của pháp luật;
- k) Nhận cầm cố tài sản mà không lưu giữ tài sản cầm cố hoặc không lưu giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cầm cố tại cơ sở kinh doanh trong thời gian cầm cố tài sản đối với tài sản theo quy định của pháp luật phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đó;
- l) Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố;
4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
- a) Hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự khi chưa được cấp hoặc bị thu hồi hoặc đang bị tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự;
...
- đ) Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự;
5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
- b) Nhận cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do người khác phạm tội mà có nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
- a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được đối với hành vi quy định tại các điểm đ, i, k, l, m, n và r khoản 3; các điểm d, đ và k khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này;
- b) Buộc nộp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ đối với hành vi quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.
2. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử lý hành chính đối với anh Trương Trung H2 về hành vi vi phạm kinh doanh dịch vụ cầm đồ theo quy định của pháp luật.
- Anh Trương Trung H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng là tiền do bị cáo nhận khi cấm cố xe mô tô. Nhận thấy hành vi cầm cố của anh H2 là mặc dù vi phạm pháp luật hành chính, tuy nhiên đây là số tiền anh H2 đưa cho bị cáo chứ không phải là khoản tiền thu lợi bất hợp pháp nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh H2 số tiền này. (điểm a khoản 7 Điều 12 NĐ144)
Bản án số 30/2025/HSST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 30/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LĐCĐTS
