Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HSST

Ngày 22/10/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thành Long

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Lê Quang Thế .

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Ngọc Huy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 16/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST - HS ngày 17/9/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2025/HSST - QĐ ngày 27/9/2025, đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; nơi đăng ký HKTT: thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện nay: thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 01/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị T (đều đã chết). Có vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1963 và có 02 con, (con lớn sinh năm 1988 và con nhỏ sinh năm 1990). Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/7/2025, bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1955.

Trú tại: thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Bà Bùi Thị U, sinh năm 1972.
  • + Ông Đỗ Tiến A, sinh năm 1965
  • + Ông Đỗ Tiến T1, sinh năm 1964
  • + Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1970

Đều trú tại: thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1955 ở thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên) là hàng xóm với nhau. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/6/2025, khi L đang ngồi chơi, nói chuyện với bà Bùi Thị T2, sinh năm 1970 ở cùng xóm, thì bà M đi đến hỏi xin lá cây sung của nhà bà T2 và được bà T2 đồng ý. Bà M đứng ở gốc cây sung nhà bà T2 trồng bên cạnh mương nước để hái lá nhưng do cây sung nhà bà T2 cao nên sau khi hái được một vài lá, thì bà M quay sang hái lá và bẻ một số cành nhỏ trên cây sung cảnh của L trồng trên chậu kê ở gần cây sung nhà bà T2. Thấy vậy, L chửi bà M “Mẹ cái con già này, ai cho mày bẻ cành sung của tao, cây sung này là cây sung cảnh, tao trồng trên chậu chứ có phải trồng dưới đất đâu”. Bị L chửi nhưng bà M vẫn tiếp tục hái lá và bẻ cành sung của L. L bực tức đi đến sát chỗ bà M, dùng cẳng tay phải tỳ vào vai bên trái của bà M, đẩy 1 cái, rồi vung cẳng tay phải gạt mạnh vào ngực bà M, làm cho bà M ngã xuống mương nước. Hậu quả: Bà M bị gẫy đầu dưới 2 xương cẳng tay phải, chấn thương phần mềm vùng hàm mặt phải đi điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 8/6/2025 đến ngày 16/6/2025.

Sau khi sự việc xảy ra, chị Lê Thị M1 sinh năm 1981 ở thôn H, xã T - là con gái bà M, gửi đơn đến Công an xã T (Công an xã A cũ), tố giác hành vi phạm tội của L. Ngày 09/6/2025, Công an xã T đã lập biên bản kiểm tra nơi xảy ra vụ việc tại thôn H, xã T. Kết quả kiểm tra xác định: Bề mặt phía trên mương nước có nhiều cây cỏ dập đổ; tại vị trí cách bàn uống nước nhà Nguyễn Văn L khoảng 4m về hướng chợ chiều thôn H có 01 chậu xi măng hình lục giác, kích thước (20 x 30 x 20)cm, trên chậu trồng 01 cây sung cảnh đường kính gốc 2,5cm, cao 30cm, tán rộng khoảng 30cm, dưới gốc vương vãi nhiều nhánh nhỏ và lá sung.

Ngày 20/6/2025, bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị giám định tổn hại sức khoẻ và yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thương tích.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4951/KL - KTHS ngày 02/7/2025 của V - Bộ C, kết luận: Bà M bị gãy đầu dưới hai xương cẳng tay phải, đang can liền, trục thẳng. Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, áp dụng Mục IV.5.2, C, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương gãy đầu dưới hai xương cẳng tay phải, đang can liền, trục thẳng của bà Nguyễn Thị M tại thời điểm giám định là: 11% ( mười một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây ra. Vùng hàm mặt, cằm phải, cổ phải không còn dấu vết của thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình thành thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Bà M yêu cầu bị cáo L phải bồi thường cho bà tổng số tiền là 36.260.233 đồng, gồm chi phí đi lại, khám và điều trị tại các bệnh viện

là 26.260.233 đồng; tiền mất thu nhập do bà không đi làm được, tiền thuê người trông nom chăm sóc bà là 10.000.0000 đồng. Bị cáo L nhất trí với yêu cầu nêu trên nhưng chưa bồi thường cho bà M.

Cáo trạng số 24/CT-VKSKĐ ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bà M xác định bị cáo đã bồi thường cho bà trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, nay bà không yêu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự, đồng thời bà có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo. Bà thừa nhận sức khỏe của bà đã yếu từ trước khi bị gây thương tích và chỉ làm những việc nhỏ, bình thường giúp con cái trong sinh hoạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hưng Yên trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích”.

Do người bị hại là bà Nguyễn Thị M có đơn xin rút yêu cầu khởi tố, do đó đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 132, khoản 2 Điều 155; Điểm a Khoản 1 Điều 282 BLTTHS: ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thương tích.Đồng thời có công văn yêu cầu Trưởng Công an xã T căn cứ điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định số 189/2025/NĐ - CP ngày 01/7/2025 của Chính Phủ quy định chi tiết Luật xử phạt vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Luyện .

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4951/KL - KTHS ngày 02/7/2025 của V - Bộ C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/6/2025, tại khu vực trước cửa nhà Nguyễn Văn L thuộc thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên giữa bị cáo và bà Nguyễn Thị M xảy ra mâu thuẫn do bà M hái lá và bẻ cành cây sung cảnh mà không xin bị cáo. Do bực tức, L đã dùng tay phải đẩy bà M ngã xuống mương nước cạnh vị trí cây sung, làm cho bà M bị gẫy đầu dưới hai xương cẳng tay phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên là 11%.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy người bị hại trong vụ là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 01/01/1955. Như vậy tại thời điểm bị cáo L có hành gây thương tích cho bà Nguyễn Thị M thì bà M đã là người hơn 70 tuổi.

Tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định về tội Cố ý gây thương tích như sau: Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

Điểm đ khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cơ thể từ 11 đến 30 nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Nghị quyết số 03/2024/NQ - HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán - Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trrong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tại khoản 9 Điều 2 quy định: “Đã quá già yếu” là người từ đủ 70 tuổi trở lên. Như vậy khái niệm này đã khẳng định người từ đủ 70 tuổi trở lên hiển nhiên là người già yếu. Việc VKSND khu vực 3- Hưng Yên dựa vào lời khai bị hại vẫn làm được một số việc nội trợ, sinh hoạt trong gia đình để xác định bà M già nhưng không yếu là không có cơ sở về khoa học sức khỏe, y tế, lao động đã được thể hiện trong các luật, chính sách căn cứ vào độ tuổi như luật lao động, luật người cao tuổi, bảo hiểm, y tế. Trên thực tiễn khi con người đã ngoài 50 tuổi, thì sau mỗi tuổi sức khỏe càng yếu, điều này cũng có thể coi là quy luật tất yếu của sức khỏe và tuổi tác. Mặt khắc, tại phiên tòa bà M khai sức khỏe bà giảm sút từ trước khi bị gây thương tích, chỉ làm được một số việc nhỏ trong gia đình, hàng tháng được con cái lấy thuốc bổ cho uống, sức khỏe yếu của bị hại còn được đánh giá vào thời điểm khi bị cáo đẩy, bà M bị ngã, hậu quả gẫy xương ngón tay hoàn toàn không có sự chống đỡ, phản kháng và dễ bị tổn thương.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L là phạm tội theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không chính xác. Việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án là không có căn cứ và không đúng quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được hành vì của của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện đã làm tổn hại sức khoẻ của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, do đó cần xét xử và áp dụng cho bị cáo một hình phạt phù hợp để làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát xác định bị cáo phải chịu tình tiết theo điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là phạm tội với người đủ 70 tuổi. Tuy nhiên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định: Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. Do đó bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi Bị cáo gây thương tích cho bà M, bị cáo chưa phạm tội lần nào khác, quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà M và bà M đã có đơn đề nghị xin rút yêu cầu khởi tố, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên bị cáo sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, không phải chịu tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên sẽ xử bị cáo dưới khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị M đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Cố ý gây thương tích”.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho UBND xã T, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian chịu thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hành phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA);
  • - VKSND Khu vực 3 - Hưng Yên.
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng nghiệp vụ hồ sơ - Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo; Người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HSST ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 30/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Luyện phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger