TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày: 30 – 5 – 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 1994 tại xã A, huyện TK, tỉnh Hải Dương. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã L, huyện TK, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L (Đã chết). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ xử phạt Nguyễn Xuân T 09 tù về tội “Trộm cắp tài sản”. T chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2024. Chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
Quyết định số 56/2020/QĐ - UBND ngày 15/02/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với Nguyễn Xuân T với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quyết định số 06/2021/QĐ-TA ngày 13/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. T Chấp hành xong ngày 19/7/2022.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/2021/QĐ - XPHC ngày 14/10/2021 của Công an xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ xử phạt T 1.250.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của thành viên trong gia đình.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 84/2021/QĐ -XPHC ngày 04/5/2021 của Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt Nguyễn Xuân T 3.500.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2025 đến ngày 24/02/2025 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- + Anh Lương Văn Th, sinh năm 2006; địa chỉ: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh N. (Vắng mặt)
- + Anh Lô Văn T1, sinh năm 2001; địa chỉ: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh N. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Phạm Đình H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện T K, tỉnh H. (Vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Tạ, xã L, huyện TK, tỉnh H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Xuân T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 12 giờ ngày 17/2/2025, T đi bộ từ nhà ở thôn T, xã L, huyện T K đến khu ký túc xá của công ty TNHH X Việt Nam, địa chỉ: thôn T, xã L, huyện T K. Đến khu đất trồng chuối phía sau ký túc xá của công ty TNHH X Việt Nam, T trèo qua tường bao xi măng vào ký túc xá, đến phòng số 20, quan sát thấy cửa phòng khép hờ, T liền mở cánh cửa thấy trong phòng có 02 giường bằng sắt hai tầng, một giường kê bên trái gần cửa ra vào có anh Lương Văn Th đang ngủ, bên cạnh có để chiếc điện thoại Iphone X, màu trắng, mặt kính lưng điện thoại bị vỡ, có ốp bên ngoài bằng nhựa màu trắng, không lắp sim. T lén lút lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần phía trước bên phải. Tiếp tục đi sang giường thứ hai thấy anh Lô Văn T2 đang ngủ, trên giường có để chiếc điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt bên ngoài có ốp nhựa màu đen trắng không lắp sim. T lén lút dùng tay trái lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần phía trước bên trái. Sau khi lấy được 02 chiếc điện thoại, T đi ra ngoài về nhà. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T sang nhà bà Nguyễn Thị L2 (hàng xóm của T) mượn chiếc xe đạp đi đến thôn V, xã N, huyện TK. T vào cửa hàng mua bán điện thoại gặp anh Phạm Đình H bán chiếc điện thoại Iphone X giá 200.000đồng. Sau khi bán chiếc điện thoại T đã tiêu xài cá nhân hết. Chiếc điện thoại còn lại T mang về nhà. Ngày 18/02/2025 anh Tình và anh Thức có đơn trình báo mất tài sản. Công an triệu tập T làm việc. T khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp cho Công an xã Lạc Phượng điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt bên ngoài có ốp nhựa màu đen trắng không lắp sim.
Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 02/KLĐGTSTT ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tứ Kỳ kết luận: 01 chiếc điện di động Iphone X màu trắng trị giá 2.500.000 đồng; 01 ốp điện thoại Iphone bằng nhựa màu trắng là 10.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt trị giá 2.700.000 đồng; 01 ốp điện thoại TECNO POVA 6 NEO bằng nhựa màu đen trắng trị giá 10.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 5.220.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKSTK, ngày 29 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ để xét xử bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về xử lý vật chứng: Không phải giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên toà, bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là đúng và bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Trên cơ sở đơn trình báo và lời khai của bị hại, bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ ngày 17/02/2025, tại phòng trọ số 20 khu Ký Túc Xá của Công ty TNHH X Việt Nam, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi tài sản, Nguyễn Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lô Văn T2 01 chiếc điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt được ốp ngoài bằng nhựa màu đen trắng trị giá 2.710.000 đồng và chiếm đoạt của anh Lương Văn Th 01 chiếc điện di động APPLE loại iphone X, màu trắng được ốp ngoài bằng nhựa màu trắng trị giá 2.510.000 đồng. Tổng trị giá bị chiếm đoạt là 5.220.000 đồng.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 5.220.000đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang và bất bình cho người dân nên cần phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, đã từng bị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với hành vi xâm phạm tài sản, thân thể người khác. Không chỉ thế ngày 01/12/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt từ ngày 20/6/2024 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành nghười có ích cho xã hội mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; vì vậy Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu thập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt bên ngoài có ốp nhựa màu đen trắng không lắp sim và chiếc điện thoại APPLE loại iphone X, màu trắng, mặt kính lưng điện thoại bị vỡ, có ốp bên ngoài bằng nhựa màu trắng không lắp sim, ngày 22/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã thu giữ, trả lại cho anh Lò Văn T2 và anh Lương Văn Th nên Hội đồng xét xử không phải xử lý.
[9] Đối với anh Phạm Đình H, là người mua chiếc điện thoại của T . Quá trình điều tra xác định anh H không biết đó là tài sản mà T trộm cắp có được, anh Hoàng đã tự nguyện trả lại 01 chiếc điện thoại và không có yêu cầu T bồi thường gì nên không đặt ra để xem xét xử lý. Đối với bà Nguyễn Thị L2, là người cho T mượn chiếc xe đạp. Quá trình điều tra thể hiện bà L2 không biết việc T sử dụng xe đạp để đi bán chiếc điện thoại do trộm cắp mà có được nên không có căn cứ xử lý bà Lưu.
[10] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, ... và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 18/02/2025.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mỹ Như |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ ngày 17/02/2025, tại phòng trọ số 20 khu Ký Túc Xá của Công ty TNHH X Việt Nam, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi tài sản, Nguyễn Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lô Văn T2 01 chiếc điện thoại di động TECNO POVA 6 NEO, màu xanh nhạt được ốp ngoài bằng nhựa màu đen trắng trị giá 2.710.000 đồng và chiếm đoạt của anh Lương Văn Th 01 chiếc điện di động APPLE loại iphone X, màu trắng được ốp ngoài bằng nhựa màu trắng trị giá 2.510.000 đồng. Tổng trị giá bị chiếm đoạt là 5.220.000 đồng.
