Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 29/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Tiêm
  2. Ông Quàng Văn Mầng

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà: bà Vũ Thị Tố Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/QÐST-HS ngày 18/12/2025 đối với bị cáo:

Lò Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 17/10/1986 tại tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: bản Mường Bú, xã M, tỉnh Sơn La; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn V, sinh năm 1964 và bà Đèo Thị N, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Hà Thị C, sinh năm 1972, có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2025 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1976, địa chỉ: tổ D Q, phường T, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1985; chị Lê Kiều A, sinh năm 1987, đều có địa chỉ tại Tiểu khu A, xã P, tỉnh Sơn La. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1985, địa chỉ: tổ C, phường C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989, địa chỉ: tiểu khu B, xã P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn H, sinh năm 1986, trú tại: bản Mường Bú, xã M, tỉnh Sơn La) có mối quan hệ quen biết gia đình vợ chồng anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1985 và chị Lê Kiều A, sinh năm 1987, cùng trú tại: iểu khu A, xã P, tỉnh Sơn La. Tháng 3/2024 và tháng 4/2024, Lò Văn H vay của vợ chồng anh Hoàng Văn H1 tổng số tiền 75.000.000đ hẹn sau khi quyết toán tiền công trình xây dựng sẽ trả lại anh H1. Sau đó, anh H1 đã nhiều lần đòi tiền nhưng H chưa có để trả.

Khoảng 16 giờ ngày 25/8/2024, Lò Văn H đến cửa hàng cho thuê xe ô tô tự lái của anh Nguyễn Trung K ở số I đường T thuộc Tổ D phường Q, thành phố S (nay là tổ D Q, phường T, tỉnh Sơn La), thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 biển kiểm soát 27A - 088.80 với mục đích làm phương tiện đi lại, thời hạn thuê là 10 ngày, giá tiền thuê là 700.000đ/ngày. Sau khi lập hợp đồng cho thuê xe ô tô, anh K giao cho H chiếc xe ô tô trên cùng các giấy tờ liên quan gồm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản sao); 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện kỹ thuật giao thông cơ giới đường bộ (bản gốc); giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô (bản gốc); biên lai thu phí đường bộ (bản gốc); hóa đơn giá trị gia tăng phí kiểm định (bản gốc). H để lại 01 căn cước công dân của mình cùng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu xám do H mua cũ từ người khác (không xác định được biển kiểm soát) để làm tin.

Sau khi thuê được chiếc xe ô tô trên, H đã nảy sinh ý định mang chiếc xe ô tô này đến giao cho anh H1 để đảm bảo thanh toán cho khoản nợ 75.000.000đ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Hồng điều khiển xe ô tô thuê được của anh K đi đến nhà anh H1 ở tiểu khu A, xã P, tỉnh Sơn La. Khoảng 21 giờ cùng ngày, đến nhà anh H1, H bảo với anh H1 chưa được quyết toán tiền công trình, chưa có tiền để trả nợ cho vợ chồng anh H1 nên H sẽ giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 mang biển kiểm soát 27A - 088.80 cho anh H1 quản lý, để đảm bảo thanh toán cho khoản tiền nợ 75.000.000đ trong thời hạn 01 tháng. H đưa ra thông tin chiếc xe ô tô trên do H mua cũ từ anh Lò Văn T2, sinh năm 1998, trú tại: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản S, xã T, tỉnh Điện Biên) vào khoảng đầu tháng 8/2024 nhưng chưa kịp làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nên H hứa hẹn trong khoảng 01 tháng, sau khi được quyết toán tiền công trình sẽ trả cho vợ chồng anh H1 để nhận lại chiếc xe ô tô trên và nói với anh H1 nếu kịp hoàn thiện thủ tục sang tên, đăng ký lại thì H sẽ giao bản gốc đăng ký xe cho anh H1 quản lý. Để anh H1 tin tưởng nhận giữ xe, H đã viết giấy bán chiếc xe ô tô trên cho anh H1 với giá 75.000.000đ và giao giấy bán xe cho anh H1 quản lý. Hết thời hạn 01 tháng, H không trả được tiền cho anh H1 nên anh H1 đã nhiều lần liên lạc, yêu cầu H trả tiền hoặc giao bản gốc đăng ký xe như đã hứa hẹn nhưng H không thực hiện. Sau đó, để không bị anh K phát hiện, biết việc mình đã giao xe, viết giấy bán xe cho anh H1, H đã bảo với anh K tiếp tục thuê xe ô tô của anh K. Ngày 15/9/2024, H đã chuyển khoản, thanh toán tiền thuê xe ô tô cho anh K với số tiền 8.000.000₫.

Sau khoảng 01 tháng từ khi H thuê xe, anh K yêu cầu H trả lại chiếc xe ô tô đã thuê và trả tiền thuê xe. Lo sợ việc anh K sẽ trình báo với Cơ quan Công an nên H đã nói với anh K đã bị anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1985, trú tại: Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (nay là Tổ C, phường C, tỉnh Sơn La), là bạn của anh Hoàng Văn H1, giữ xe và ép viết giấy bán xe cho anh H1. Thấy vậy, anh K đã gặp anh T và H để giải quyết sự việc, anh T không thừa nhận nội dung mà H nêu, H sẽ có trách nhiệm trả lại số tiền nợ cho anh H1 để nhận lại chiếc xe ô tô mang trả lại cho anh K chiếc xe ô tô và thanh toán tiền thuê xe cho anh K. Sau một thời gian vẫn không thấy H mang xe ô tô về trả, ngày 04/12/2024 anh K đã trình báo đề nghị Cơ quan Công an giải quyết sự việc.

Ngày 05/12/2024, anh H1 cho người quen là anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989, trú tại tiểu khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu B, xã P, tỉnh Sơn La) mượn xe ô tô trên đi lên khu vực thành phố S cũ. Anh K thấy chiếc xe ô tô của mình nên đã báo cho Cơ quan Công an thành phố S. Anh T1 đã giao nộp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 biển kiểm soát 27A - 088.80 trên cho Cơ quan Công an thành phố S để giải quyết vụ việc theo quy định.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 biển kiểm soát 27A - 088.80.

Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S đã kết luận: Tổng giá trị của chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI; số loại GRAND màu nâu đã qua sử dụng, loại xe 05 chỗ ngồi, biển kiểm soát 27A - 088.80; số máy: G4LAJM068323; số khung: RLUG6S1DAJN026050 đến thời điểm bị chiếm đoạt (ngày 25/8/2024) là 233.000.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu đồng).

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSKV1 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm đề nghị truy tố đối với bị cáo Lò Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lò Văn H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo Lò Văn H: 01 Căn cước công dân có số [...] mang tên Lò Văn H do Cục C2 về TTXH – Bộ C3 cấp ngày 29/9/2022 (bản gốc). Về trách nhiệm dân sự: chấp nhận yêu cầu của bị hại là anh Nguyễn Trung K buộc bị cáo Lò Văn H phải trả số tiền 60.000.000đ cho anh Nguyễn Trung K; chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn H1, chị Lê Kiều A buộc bị cáo Lò Văn H phải hoàn trả số tiền 75.000.000đ cho anh Hoàng Văn H1, chị Lê Kiều A. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại Nguyễn Trung K trình bày đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 biển kiểm soát 27A - 088.80 đã được nhận lại, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị hại yêu cầu bị cáo phải trả số tiền thuê xe ô tô còn lại là 60.000.000đ và xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người liên quan Hoàng Văn H1, Lê Kiều A yêu cầu Toà án buộc bị cáo Lò Văn H phải bồi thường cho người liên quan số tiền 75.000.000đ, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: bị hại, người liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Lò Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời nhận tội của bị cáo đối chiếu với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và tài liệu xác minh thu giữ, thông tin cung cấp của các cơ quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: vào ngày 25/8/2024, Lò Văn H đã thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand I10 biển kiểm soát 27A - 088.80 của anh Nguyễn Trung K (trị giá 233.000.000đ) để sử dụng. Sau đó, do không có tiền để trả nợ cho anh Hoàng Văn H1 nên Lò Văn H đã đưa ra thông tin gian dối rằng đã mua lại chiếc xe trên của người khác rồi viết giấy bán xe cho anh H1 quản lý, sử dụng mà không trả lại xe cho anh Nguyễn Trung K. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo:

- Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là ông Lò Văn C1 được tặng Huân chương kháng chiến vẻ vang hạng Nhì nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt đối với bị cáo: xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, quyền sở hữu tài sản của cá nhân mà còn xâm phạm đến trật tự xã hội, cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe giáo dục đối với những người đang có ý định thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù là phù hợp, có căn cứ đúng quy định.

[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu của bị hại là anh Nguyễn Trung K buộc bị cáo Lò Văn H phải hoàn trả số tiền 60.000.000đ tiền thuê xe cho anh Nguyễn Trung K; chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn H1, chị Lê Kiều A buộc bị cáo Lò Văn H phải hoàn trả số tiền 75.000.000đ tiền vay nợ cho anh Hoàng Văn H1, chị Lê Kiều A.

[8] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 Căn cước công dân có số [...] mang tên Lò Văn H do Cục C2 về TTXH – Bộ C3 cấp ngày 29/9/2022 (bản gốc), xét thấy là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

[9] Đối với anh Hoàng Văn H1, quá trình điều tra xác định anh H1 không biết rõ nguồn gốc chiếc xe ô tô do bị cáo H mang đến bán, do đó hành vi của H1 không cấu thành tội tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 6.750.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 05 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 02/10/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015,

- Buộc bị cáo Lò Văn H phải trả cho bị hại anh Nguyễn Trung K số tiền thuê xe là 60.000.000đ;

- Buộc bị cáo Lò Văn H phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H1 và chị Lê Kiều A số tiền vay là 75.000.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định.

3. Về vật chứng vụ án: Tuyên trả lại cho bị cáo Lò Văn H: 01 Căn cước công dân có số [...] mang tên Lò Văn H do Cục C2 về TTXH – Bộ C3 cấp ngày 29/9/2022 (bản gốc),

(Theo chi tiết tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2025 Giữa Công an tỉnh S và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Sơn La).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.750.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2025). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự"./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Tiêm

Quàng Văn Mầng

Đào Thị Quỳnh Trang

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 - Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Sơn La;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - THAPT (2);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đào Thị Quỳnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Lò Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger