|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày 27-11-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thào A Trư;
- Bà Lường Thị Hoàn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hường Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Lường Văn T, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1986 tại xã L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H và bà Lường Thị C; có vợ là Lường Thị T1 và có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 tháng theo Quyết định số: 61/QĐ-TA ngày 25-8-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, đến ngày 06-9-2023 chấp hành xong quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 21-8-2025, bị tạm giữ từ ngày 21-8-2025; bị tạm giam từ ngày 26-8-2025; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị B- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lường Văn T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 26/QĐ-UBND ngày 06-9-2023 của UBND xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai), thời gian quản lý là 02 năm kể từ ngày 06-9-2023 đến ngày 06-9-2025.
Khoảng 16 giờ, ngày 20-8-2025 tại khu vực gần trụ sở UBND xã P cũ nay thuộc xã T, tỉnh Lào Cai. Lường Văn T đã đưa 200.000 đồng cho một người đàn ông dân tộc Mông và thỏa thuận số ma túy mua được sẽ chia đôi mỗi người một nửa, sau đó khoảng 15 đến 20 phút thì người mua hộ ma túy quay lại và cầm theo 02 gói Heroine bên ngoài bọc giấy trắng và đưa cho T một gói Heroine. Lường Văn T mang số Heroine đã mua được về nhà tại bản Cóc, xã L, tỉnh Lào Cai đến khoảng 17 giờ cùng ngày T lấy số Heroine đã mua được trước đó cho vào hai chiếc xi lanh và pha cùng nước cất thành dung dịch, sau đó lấy một xi lanh tự tiêm (chích) vào cánh tay phải của mình, chiếc xi lanh có chứa dung dịch Heroine còn lại đến khoảng18 giờ cùng ngày T tiếp tục sử dụng bằng cách tiêm (chích) vào cơ thể. Đối với gói giấy dùng để gói ma túy thì T vứt xuống mương nước phía sau nhà còn chiếc xi lanh đã sử dụng xong Thượng ném vào bếp lửa của gia đình.
Ngày 21-8-2025, Công an xã L phối hợp với Trạm y tế xã Liên Sơn tiến hành xét nghiệm ma túy (thử test nhanh) đối với Lường Văn T. Kết quả trong mẫu nước tiểu của Lường Văn T dương tính với chất ma túy. Công an xã L đã lấy mẫu nước tiểu của Lường Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 21-8-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy của Lường Văn T tại thôn Bản Cóc, xã L, tỉnh Lào Cai. Kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số: 1471/KL-KTHS ngày 24-08-2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Lường Văn T, sinh năm 1986, trú tại thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai thu ngày 21-8-2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine, C1, Methamphetamine, A và chất 6-MAM.
Morphine,6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của heroine trong nước tiểu. Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Codeine: Số thứ tự 06, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Amphetamine: Số thứ tự 5, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Cáo trạng số: 07/CT-VKS-KV5 ngày 29-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lường Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lường Văn T khai nhận hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 nghịquyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 02 năm tù, về án phí bị cáo gia đình thuộc diện hộ nghèo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được hòa nhập cùng cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Lường Văn T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 26/QĐ-UBND ngày 06-9-2023 của UBND xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai), thời gian quản lý là 02 năm kể từ ngày 06-9-2023 đến ngày 06-9-2025. Từ khoảng 17 giờ đến 18 giờ ngày 20-8-2025 tại nơi ở của mình thuộc thôn Bản Cóc, xã L, tỉnh Lào Cai. Lường Văn T đã lấy số Heroine đã mua được trước đó ra sử dụng bằng hình thức tiêm (chích) dung dịch Heroine đã hòa tan vào cơ thể.
Ngày 21-8-2025, Công an xã L phối hợp với Trạm y tế xã Liên Sơn tiến hành xét nghiệm ma túy (thử test nhanh) đối với Lường Văn T. Kết quả trong mẫu nước tiểu của Lường Văn T dương tính với chất ma túy. Công an xã L đã lấy mẫu nước tiểu của Lường Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Kết luận giám định số: 1471/KL-KTHS ngày 24-08-2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Lường Văn T, sinh năm: 1986, trú tại thôn Bản Cóc, xã L, tỉnh Lào Cai thu ngày 21/8/2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine, C1, Methamphetamine, A và chất 6-MAM. Morphine,6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroinetrong nước tiểu.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của luật phòng, phòng chống ma túy của bị cáo Lường Văn T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình 2015 được sửa đổi bổ sung vào năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Bị cáo Lường Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng; sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.
[5] Xét nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, năm 2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó cần xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Từ trước đến nay bị cáo chưa phạm tội lần nào, tội phạm bị cáo đã thực hiện thuộc loại tội phạm ít nghiệm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, phòng ngừa chung trong cộng đồng.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 30ml mẫu nước tiểu của Lường Văn T được thu vào 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp xoáy màu trắng, được niêm phong vào một phong bì, Cơ quan giám định đã dùng làm mẫu giám định, không hoàn lại đối tượng giám định.
- Đối với gói giấy dùng để gói ma túy và hai chiếc xi lanh Lường Văn T đã dùng để sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định bị cáo đã ném gói giấy dùng để gói ma túy xuống mương nước phía sau nhà còn 02 chiếc xi lanh sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo cho vào bếp lửa của gia đình, Cơ quan điều tra không thu hồi được các vật chứng này, nên không đặt ra để xem xét, xử lý trong vụ án.
[9] Các đối tượng và hành vi có liên quan:
Đối với người đàn ông đã mua hộ Heroine cho bị cáo Lường Văn T tại khu vực gần UBND xã P cũ nay thuộc xã T, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người mua hộ ma túy cho bị cáo là ai, ở đâu, nên không có cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Bị cáo gia đình thuộc diện hộ nghèo theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số: 25/GCN-HN-HCN ngày 21-8-2025 của UBND xã L, tỉnh Lào Cai. Tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được miễn án phí theo quy định của pháp luật. do đó, đề nghị miễn án phí của bị cáo, người bào chữa, Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lường Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 21-8-2025.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Lên |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Thượng là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 26/QĐ-UBND ngày 06-9-2023 của UBND xã Sơn A, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái (nay là xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai), thời gian quản lý là 02 năm kể từ ngày 06-9-2023 đến ngày 06-9-2025. Từ khoảng 17 giờ đến 18 giờ ngày 20-8-2025 tại nơi ở của mình thuộc thôn Bản Cóc, xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai. Lường Văn Thượng đã lấy số Heroine đã mua được trước đó ra sử dụng bằng hình thức tiêm (chích) dung dịch Heroine đã hòa tan vào cơ thể.
