Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn và ông Bùi Văn Thiệu.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn N, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1991 tại xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 04/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C, sinh năm 1970 và bà Bùi Thị D, sinh năm 1959; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 2 anh em; bị cáo có vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1993; có 02 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án: Chưa.

- Tiền sự: ngày 02/5/2024 bị Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 02/QĐ-XPHC.

- Nhân thân: ngày 15/01/2021 bị Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 02/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cơ trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Bùi Văn M, sinh năm 1979; Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  • + Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1998; Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  • + Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
  • + Ông Bùi Văn B, sinh năm 1962; Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 ngày 11/02/2025, Bùi Văn N cùng với Bùi Văn M, Bùi Văn C1, Bùi Văn T1 đến nhà ông Bùi Văn B, là người cùng xóm chơi. Khi thấy vợ chồng ông B đi kiểm tra nước ruộng nên Bùi Văn T1 khởi xướng, rủ Bùi Văn N, Bùi Văn C1, Bùi Văn M sử dụng bộ tú có sẵn trên bàn trong nhà ông B để đánh bạc bằng hình thức đánh L thắng thua trả bằng tiền Việt Nam đồng tại gian giữa nhà sàn ông B. Để tham gia đánh bạc, Bùi Văn N sử dụng 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng), Bùi Văn C1 sử dụng 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng), Bùi Văn T1 sử dụng 140.000đ (Một trăm bốn mươi nghìn đồng), Bùi Văn M sử dụng 140.000đ (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) và các đối tượng đã sử dụng hết số tiền mang theo vào mục đích đánh bạc. Khi Bùi Văn N và những người khác đang đánh bạc trái phép thì bị tổ công tác Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc gồm: 530.000 đồng (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) là số tiền các con bạc sử dụng để đánh bạc và 52 quân bài tú lơ khơ.

Quy ước cách đánh bạc bằng hình thức chơi tú lơ khơ (đánh liêng) như sau:

Mỗi lần chơi mỗi người phải đặt 10.000₫ (Mười nghìn đồng) để đặt gà, mỗi người chơi được chia 03 lá bài, số bài còn lại bỏ ra ngoài. Sau khi chia bài xong, các người chơi kiểm tra bài của mình có bao nhiêu điểm, có Liêng hay không và bắt đầu chơi, người chia bài sẽ là người được tố đầu tiên, người tố tiếp theo lần lượt theo chiều quay kim đồng hồ và phải tố cao hơn hoặc bằng số tiền của người tố trước đó nhưng tối đa không quá 30.000₫ (Ba mươi nghìn đồng). Nếu người chơi nào thấy bài của mình nhỏ hoặc không có khả năng thắng bài những người còn lại thì có thể bỏ bài (coi như thua) và sẽ bị mất số tiền đặt gà và số tiền đã tố trước đó. Khi tố xong ván bài mà chỉ còn lại một người không bỏ bài thì người đó coi như thắng và sẽ được hết số tiền đặt gà và số tiền đã tố của những người còn lại. Nếu như trong một ván bài có nhiều người cùng có số tiền tố bằng nhau thì những người này sẽ cùng hạ bài để tính điểm với nhau, bài của ai có điểm cao nhất thì thắng. Quy ước “Liêng” là bài cao nhất gồm ba quân bài tạo thành một sảnh trong đó theo thứ tự to dần từ một, hai, ba đến Q, K, A (Át), nếu không có “Liêng” thì những người chơi sẽ tính điểm với nhau, 9 điểm là cao nhất và 0 điểm là nhỏ nhất. Nếu trong một ván bài có từ hai người trở lên cùng bằng điểm nhau thì tính đến chất của quân bài để xem người nào thắng, chất “Rô” là to nhất, tiếp theo lần lượt là cơ-tép-bích. Khi tính điểm quân bài Át (1) đến quân bài 9 tương ứng với số điểm từ 1-9, quân bài 10, J, Q, K tương ứng với 0 điểm. Người chơi nào thắng ván bài trước sẽ được chia bài ván tiếp theo và là người tố đầu tiên.

Trước đó, ngày 02/5/2024 Bùi Văn N bị Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc. Căn cứ Điều 7, Luật xử lý vi phạm hành chính số: 15/2012/QH13, ngày 20/06/2012 sửa đổi bổ sung năm 2020 của Quốc hội, Bùi Văn N chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc thì Bùi Văn N lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 11/02/2025 tại xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Trước Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, Bùi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng như sau:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật gồm:

  • - 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng.
  • - Số tiền: 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Vật chứng nêu trên đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn quản lý chờ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo. Xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:

  • + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) loại tiền do Ngân hàng N1 phát hành.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng; không kêu oan, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, các con còn quá nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo: ngày 11/02/2025 Bùi Văn N đã sử dụng bài tú lơ khơ để thực hiện hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức Đánh liêng, thắng thua bằng tiền cùng với Bùi Văn M, Bùi Văn C1, Bùi Văn T1 tại xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng). Số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng trước đó ngày 02/5/2024 bị cáo đã bị Công an xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, hành vi của bị cáo Bùi Văn N đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, từ hành vi đánh bạc có thể dẫn đến nhiều hành vi trái pháp luật, các tệ nạm xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có nhận thức xã hội, có hiểu biết do đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này từ năm 2021, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại muốn kiếm tiền nhanh chóng bằng con đường bất hợp pháp. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt theo tội danh và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với hành vi của Bùi Văn M, Bùi Văn T1 và Bùi Văn C1 cùng đánh bạc với bị cáo nhưng số tiền tham gia đánh bạc của M, T1, C1 dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng); bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc; tổ chức đánh bạc và gá bạc. Bùi Văn T1 là người khởi xướng nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc. Do vậy, Công an tỉnh H đã xử lý hành chính đối với hành vi của Bùi Văn M, Bùi Văn T1 và Bùi Văn C1 là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Đối với Bùi Văn B và Nguyễn Thị L1 là chủ nhà nhưng tại thời điểm Bùi Văn N và những người khác thực hiện hành vi đánh bạc thì Bùi Văn B và Nguyễn Thị L1 không có mặt tại nhà, không được hưởng bất cứ lợi ích gì từ việc đánh bạc trái phép đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không đề cập xử lý là có căn cứ.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, i khoản 1, Điều 51; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, bị cáo xin hưởng án treo là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) loại tiền do Ngân hàng N1 phát hành; đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 15 ( Mười lăm ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 ( Ba mươi ) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án 26/6/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Giao bị cáo Bùi Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) loại tiền do Ngân hàng N1 phát hành.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 29/5/2025 giữa Công an tỉnh H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lạc Sơn;
  • - bị cáo;
  • - UBND xã;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn N phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger